Điều cầu nguyện
của người tu
Người xuất gia có một ý niệm khác về cầu nguyện. Ngay
trong bài Đệ tử kính lạy, bài cầu nguyện phổ thông nhất của giới Phật tử Việt-nam,
có nói rất rõ về mục đích của sự cầu nguyện.
Đã đành chúng ta cầu thân không tật bệnh, tâm không
phiền não. Nhưng chúng ta không cầu nhận hai điều đó như là hai cứu cánh, tại
vì chúng ta muốn đi xa hơn nữa. Nên nhớ rằng bài này không phải chỉ dành cho giới
xuất gia mà chung cho tất cả mọi người tại gia, và những em rất trẻ ở trong Gia
đình Phật tử Việt-nam nữa.
Ngửa trông ơn Phật từ bi gia hộ, thân không tật bệnh,
tâm không phiền não để làm gì? Để hàng ngày an vui tu tập phép Phật nhiệm mầu,
để mau ra khỏi luân hồi, minh tâm kiến tánh. Đó là câu tụng của người xuất gia.
Ra khỏi luân hồi, vượt thoát sanh tử, là lời cầu nguyện của những người xuất
gia.
Người xuất gia có thể cầu nguyện sức khỏe, có thể cầu
nguyện thành công, có thể cầu nguyện hài hòa trong tăng thân không? Có! Nhưng
chừng đó chưa đủ. Người xuất gia phải đi đến một mức độ sâu sắc hơn, đó là giải
thoát sanh tử để có thể thỏa mãn được những nhu yếu rất sâu mà người tại gia
chưa thấy được. Đó là biết rõ tôi từ đâu tới, tại sao tôi có mặt đây, tôi sẽ đi
về đâu, sau khi chết tôi còn hay không, tôi với Bụt có liên hệ gì không, cái bản
lai diện mục của tôi là gì? Đó là những điều cầu nguyện sâu sắc nhất của người
tu.
Nếu là người tu mà chỉ cầu nguyện ba điều thông thường
là sức khỏe, thành công và hài hòa, thì chưa phải là người tu đích thực. Người
tu đích thực phải cầu nguyện tới mức độ sâu sắc hơn. Mình phải làm thế nào để
trong đời sống hàng ngày, mình có thể có cái nhìn chọc thủng được bình diện
tích môn, để đi tới bản môn, mà thấy được cái bản chất tương tức của vạn sự, vạn
vật. Mình phải thấy được cái Như Lai tạng, cái chân như, cái bản thể, cái niết
bàn thì lúc đó mình mới đạt tới sự thỏa mãn lớn lao của người tu.
Sự thỏa mãn đó có rồi thì dầu có sức khỏe nhiều hay sức
khỏe ít, mình vẫn có hạnh phúc như thường. Dù thành công hay không thành công
trong công việc, trong sự tạo dựng chùa chiền, hoặc trong tổ chức tăng thân,
thì mình vẫn không đau khổ gì cả. Cố nhiên khi mình có hạnh phúc rồi thì mình sẽ
không tranh chấp, không gây chiến tranh, không tạo khổ đau. Sự hài hòa do đó tự
nhiên nó có.
Như vậy thì chúng ta khác nhau ở chỗ nào? Khác nhau ở
trình độ cầu nguyện của chúng ta. Khi chúng ta đã tiếp xúc được với bản môn rồi,
nghĩa là tiếp xúc được với niết bàn, với chân như, với Như Lai tạng, khi chúng
ta đã bước vào được thế giới của Hoa Nghiêm, đã tiếp xúc được với nước Chúa, với
Thượng đế rồi, thì cái gì xảy ra trong tích môn ta cũng chấp nhận được cả,
chúng ta đã đi vào trong cõi an lạc, không còn đau khổ nữa. Sống thêm mười năm
nữa cũng được, mà sống thêm nửa năm nữa cũng không sao.
Lúc đó, chúng ta đã thay đổi hẳn cách nhìn của chúng
ta. Trước kia nếu không có cái này, ta sẽ đau khổ vô cùng, nhưng khi tiếp xúc được
với chân như rồi thì không có cái này cũng không sao. Trước kia không có sự
thành công này, ta xem như cả cuộc đời thất bại, nhưng khi đã tiếp xúc được với
bản môn rồi thì dù chùa của mình có bị cháy, dù người ta bôi xấu mình, người ta
gán cho mình những điều oan ức, thì mình vẫn mỉm cười, an lạc được như thường.
Cái mà ta cho là sự thành công, căn bản hạnh phúc của đời ta, ta không cần nữa,
tại vì hạnh phúc của ta ở trong bản môn đã có, và rất lớn, nó vượt thoát khỏi
cái thành cái bại.
Ngoài ra, khi mình thấy được mình và tất cả chúng
sanh là cùng một bản thể, thì làm gì có sự chia cách mà không có sự hài hòa? Ta
và bụt đã là một, thì làm gì có sự chia cách nữa? Vì vậy cho nên người tu phải
biết cách cầu nguyện, và cái ước muốn sâu sắc nhất của người tu là tiếp xúc được
với bản môn. Tiếp xúc được với bản môn rồi thì tự nhiên sức khỏe của chúng ta
tăng tiến, chúng ta sẽ thành công trong sự tu học và hóa độ, chúng ta sẽ tạo được
tăng thân rất an lạc, rất hạnh phúc, rất hài hòa. Nhưng dù cho sự thành công không
tới mức mà ta mong ước, chúng ta vẫn không thấy khổ. Cho nên chúng ta thấy rằng
sự cầu nguyện của người tu là rất sâu sắc, nó không chỉ nằm trên bình diện tích
môn.
Chúng ta đừng nghĩ rằng sức khỏe của chúng ta là quan
trọng nhất, sự thành công của chúng ta là quan trọng nhất, hay cái liên hệ của
chúng ta với người thương, với gia đình, với xã hội là quan trọng nhất. Cái
quan trọng nhất của người tu là chúng ta chọc thủng được bức màn tích môn để đi
vào thế giới của bản môn, để thấy được sự liên hệ, thấy được cái tương tức giữa
ta và Bụt, giữa ta và tất cả những hiện tượng khác của sự sống quanh ta.
Vì vậy khi cầu nguyện, chúng ta phải có trí tụê. Đa số
chúng ta khi cầu nguyện thường muốn đức Bồ tát làm cho chúng ta điều này điều
kia, muốn Thượng đế ban cho chúng ta cái này cái nọ. Chúng ta tưởng rằng nếu Bụt,
nếu Bồ tát, nếu Thượng đế làm cho ta cái đó, ta sẽ có hạnh phúc. Nhưng cái trí
tuệ của chúng ta đâu có đủ để chúng ta đặt ra một chương trình cho Bụt, cho Bồ
tát, hoặc cho Thượng đế làm theo?
Ví dụ về sinh môi. Chúng ta muốn cầu nguyện như thế
nào? Chúng ta cầu nguyện cho cây đừng bị đốn, cho các loài chúng sanh đừng bị
sát hại, không bị diệt chủng. Nhưng cái thấy của chúng ta có đủ để chúng ta đưa
ra một chương trình và nhờ Thượng đế thực hiện giùm không? Tại vì trong chương
trình của Thượng đế, có sự sinh nở, có sự tiêu diệt. Những con châu chấu đó nếu
không chết, mỗi khi hàng trăm triệu con đáp xuống, thì chỉ trong vài giây đồng
hồ là chúng có thể làm cho mùa màng của cả một vùng bị tiêu tan. Có những con
vi khuẩn có thể ăn những con vi khuẩn khác. Chúng ta có đủ trí tuệ để thiết kế
một sinh môi hay không? Trong sự sinh nó phải có sự diệt. Phải có những loài
này tấn công những loài khác và tạo thành một thế thăng bằng để sự sống có thể
có mặt được. Chúng ta có đủ trí tuệ để thiết lập ra sự thăng bằng đó hay không?
Nếu chúng ta không có khả năng đó mà vẫn muốn sự việc xảy ra theo ý mình, thì sự
cầu nguyện của chúng ta chỉ biểu lộ sự ngu si, sự tham lam của chúng ta mà
thôi.
Trí tuệ của chúng ta về sự sống như thế nào, từ bi của
chúng ta có bao nhiêu mà chúng ta muốn làm một danh sách công việc để bắt Thượng
đế phải làm theo? Cho nên trong khi cầu nguyện ta phải có trí tuệ, chúng ta đừng
đòi hỏi quá đáng như đòi hỏi một sức khỏe toàn hảo, một perfect health, một đòi
hỏi rất là vô lý!
Chúng ta cầu nguyện cho bản thân ta, cầu nguyện cho
những người thương của ta, và chúng ta đòi hỏi những điều mà nếu Thượng đế làm,
nếu đức Bồ tát làm thì sẽ tạo ra một sự xáo trộn rất lớn trong thế giới này, và
sẽ gây ra rất nhiều đau khổ.
Cho nên phải có trí tuệ trong khi cầu nguyện. Làm sao
để có trí tuệ? Muốn có trí tuệ thì ta phải quán chiếu, phải đi về bản môn. Một
điều mà chúng ta có thể biết được là khi năng lượng của từ bi, của trí tuệ, của
chánh niệm khởi dậy rồi, thì chúng ta có thể thay đổi được tình trạng, thay đổi
được hoàn cảnh. Thay đổi không phải bằng cá nhân của ta mà thôi, mà bằng cả tâm
thức cộng đồng. Tâm thức cộng đồng đó là cái chìa khóa của tất cả sự thay đổi.
Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ, nói rằng: Thượng đế
là một vệ tinh viễn thông. Tất cả những ước muốn của mình phải được phóng lên
trên đó, rồi Thượng đế sẽ gởi phán quyết của ngài lại cho người mình muốn cầu
nguyện.
Ví dụ mình là A, mình muốn cầu nguyện cho B, hai bên ở
xa nhau. Mình phải hướng lời cầu nguyện tới Thượng đế và Thượng đế sẽ phản chiếu
lại giùm mình. Mình cầu cho B được làmh bệnh thì B sẽ được lành bệnh. Vì vậy mà
Thượng đế được ví như là một vệ tinh viễn thông.
Cái vệ tinh viễn thông mà Larry Dossey gọi là Thượng
đế đó, đạo Bụt gọi là Tâm thức cộng đồng, tức là A-lại-gia thức, trong đó Bụt
và chúng ta là một. Nếu có một sự chuyển biến ở trong tâm thức cá nhân thì có sự
chuyển biến ở trong tâm thức cộng đồng. Mà khi có chuyển biến trong tâm thức cộng
đồng thì có sự chuyển biến tình trạng của đối tượng cầu nguyện của chúng ta. Vì
vậy cho nên ta nói rằng tất cả là đều do tâm. Tâm của chúng ta là một sáng tạo
phẩm của tâm thức cộng đồng. Nếu chúng ta muốn có sự thay đổi, thì chúng ta phải
trở về với tâm.
Tâm của chúng ta là một trung tâm chế biến năng lượng.
Từ trung tâm điện lực đó, ta mới có thể thay đổi được thế giới, vũ trụ. Thay đổi
bằng những năng lượng có thật, và do chính ta chế tác ra.
Đó là cách cầu nguyện hữu hiệu nhất.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh