Năng lượng tu tập
Yếu tố thứ hai của sự cầu nguyện là phải có năng lượng, tương đương với
vấn đề phải có dòng điện trong đường dây điện thoại.
Trong sự cầu nguyện, dòng điện đó là tình thương, là chánh niệm, là
chánh định. Phải có niệm, phải có định, phải có tuệ, và phải có tình thương (tức
là từ và bi), thì mới có hy vọng thành công trong sự cầu nguyện.
Như vậy tiến trình của việc cầu nguyện là trước hết ta phải thiết lập
sự liên hệ, tức là nối cho được đường dây; kế đó ta phải chuyền năng lượng của
chánh niệm qua đường dây đó. Dù trong tư thế ngồi, trong tư thế đứng, trong tư
thế quỳ, hay trong tư thế nằm, nếu chúng ta có năng lượng của niệm, của định, của
từ, và của bi thì chúng ta có thể cầu nguyện được, và hiệu quả của sự cầu nguyện
có thể tức thời, xảy ra cùng một lúc với sự cầu nguyện.
Nếu hành trì như vậy mà kết quả của sự cầu nguyện vẫn không thấy, thì
chúng ta thường phân vân với câu hỏi thứ tư: Nếu cầu nguyện không có kết quả,
đó có phải là do đức tin yếu kém hay không? Đó có phải là do tình thương không
có mặt, hoặc còn yếu kém hay không?
Đúng vậy! Nếu cầu nguyện mà không đủ niệm, mà thiếu định, thiếu từ,
thiếu bi, thì việc cầu nguyện sẽ không thành công. Các yếu tố đó là những năng
lượng cần có để chuyền vào đường dây. Khi trái tim của anh chưa mở ra, làm sao
anh thấy khỏe được? Khi trái tim anh đã mở ra rồi thì anh thấy khỏe liền lập tức,
anh thấy sự cầu nguyện có hiệu quả liền lập tức, rõ nhất là trong thân và trong
tâm của chính anh, anh không cần thì giờ chờ đợi kết quả.
Không những đức tin cần phải có tình thương, mà còn cần phải có niệm.
Theo sự thực tập của chúng ta tại Làng Mai thì niệm là sự có mặt đích thực của
thân và tâm. Thân và tâm về cùng một mối, trong giờ phút hiện tại. Nếu không có
điều đó thì chúng ta không cầu nguyện được, dù chúng ta là người Cơ-đốc giáo
hay là người Hồi giáo. Nếu anh không có mặt thì ai là người đang cầu nguyện
đây? Cho nên anh phải có mặt đích thực, thân và tâm anh phải an ổn tìm về một mối
ngay trong giây phút đó, tức là anh phải có niệm trong lúc anh cầu nguyện. Khi
có niệm thì anh có định, tức là có điều kiện để dẫn đến cái thấy sâu sắc (Tuệ).
Cái mà chúng ta nói là nguyên tắc đầu tiên, sự cảm ứng đạo giao, năng
lễ sở lễ tánh không tịch, là một cái tuệ. Cái tuệ đó có thể được gọi là Không,
là Tương tức, the nature of interbeing. Khi chúng ta chắp tay lại và quán tưởng
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch là chúng ta đem cái tuệ giác Bát nhã, cái tuệ
giác tương tức vào để thiết lập sự liên hệ giữa ta và đấng ta cầu nguyện. Nếu
không có cái đó thì cầu nguyện sẽ không thành. Nếu không có cái đó thì sự khấn
vái chỉ là một sự mê tín.
Khi ta cầu ông nội, bà ngoại, hay là ông chú, chúng ta phải có cái tuệ
giác tương tức này thì chúng ta mới chạm tới được những tế bào của ông chú, của
bà ngoại ở trong ta. Nhờ vậy mà những tế bào đó mới bắt đầu sống dậy trong ta,
bắt đầu hoạt động để giúp những tế bào khác tăng trưởng, những năng lượng đó
giúp chúng ta biết đi thiền hành, biết thở, biết nuôi dưỡng, chăm sóc những tế
bào khác ở trong chúng ta. Ngay lúc chúng ta chạm được tới ông nội, bà ngoại,
ông chú thì những tế bào tươi tốt đó bắt tay vào việc liền lập tức, không cần
chờ đợi một thời gian nào cả.
Cũng vậy, khi chúng ta đã tiếp xúc được với Bụt ở trong ta rồi, khi
chúng ta đã tiếp xúc được với Bồ tát Quán Thế Âm trong ta rồi, thì không đợi thời
gian nữa, cái năng lượng đó của ta và của Bụt đã giao nhau và trong ta đã bắt đầu
có sự chuyển đổi.
Nghiệp báo và sự cầu nguyện
Chúng ta đi sang câu hỏi thứ ba: Nếu Thượng đế đã quyết định như vậy,
nếu cái nghiệp lực nó đã như vậy rồi, thì làm sao chúng ta có thể thay đổi được
mà cầu nguyện cho mất công? Câu hỏi mà chúng ta có thể hỏi lại là Tại sao
không?
Trong đạo Bụt chúng ta đã học được rằng tất cả đều là vô thường, nghĩa
là có thể thay đổi được. Hôm nay khỏe, ngày mai bệnh; hôm nay bệnh ngày mai có
thể hết bệnh. Tất cả đều vâng theo luật nhân quả.Vì vậy nếu chúng ta có một
năng lượng mới, có một tuệ giác mới, có một niềm tin mới, thì chúng ta có thể mở
ra một giai đoạn mới của thân và của tâm. Vì vậy cho nên khi ngồi lại để thực tập
đem thân, tâm về một mối, và đưa năng lượng tình thương của mình về cho bà con
hoặc sư chị, hay sư em của mình, thì lúc đó chúng ta đang chế tác ra một năng
lượng mới. Năng lượng đó lập tức làm cho trái tim ta mở ra. Chúng ta có cam lồ,
có từ bi, và cái khoảng từ Làng Mai đến Hà-nội không có nghĩa gì cả. Khoảng
cách đó so với khoảng cách từ đây đến vệ tinh viễn thông ngắn hơn rất nhiều. Mà
ngay cả khoảng cách từ đây đến về tinh viễn thông cũng chẳng có nghĩa gì cả so
với việc thiết lập giao cảm giữa người cầu và người được cầu trong đạo Bụt.
Trong sự cảm thông không thể nghĩ, không thể bàn, trong cái nguyên tắc năng lễ,
sở lễ tánh không tịch thì thời gian và không gian không là một trở ngại nào cả.
Vậy thì cái ý chí của Thượng đế, cái volonté của Thượng đế cũng là cái ý chí của
ta, tại vì Thượng đế và ta không phải là hai thực tại riêng biệt. Nếu ta muốn
thay đổi thì Thượng đế cũng sẽ chiều ta. Cụ Nguyễn Du cũng đã thấy điều đó:
Khi nên trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nghiệp trước, đền bồi duyên sau.
Vấn đề chính là anh có chịu thay đổi hay không, anh có muốn thay đổi
hay vẫn thích ôm lấy cái thú đau thương, cái thích thả hồn trong mộng? Nếu anh
thực tâm muốn thay đổi thì Thượng đế cũng sẽ chiều anh để thay đổi.
Khi nên trời cũng chiều người, trời đây là cái tha lực, mà trời và ta
không phải là hai thực thể cách biệt. Giữa cha và con cũng vậy, giữa mẹ và con
cũng vậy, nếu con thay đổi thì mẹ thay đổi, nếu con thay đổi thì cha cũng sẽ
thay đổi. Quý hồ là cái năng lượng phát xuất từ người con, nó làm thay đổi
trong trái tim của người con trước, rồi nó sẽ tạo ra sự thay đổi trong trái tim
của người cha, người mẹ sau. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta không phải là những
thực tại độc lập với nhau. Cho nên tuy Thượng đế đã an bài như vậy, Thượng đế
muốn như vậy, nhưng chúng ta vẫn có thể thay đổi được, tại vì nói theo ngôn ngữ
của Cơ-đốc giáo, chúng ta là con của Thượng đế.
Giữa tạo hóa (Thượng đế) và tạo vật (vũ trụ chúng sanh) có liên hệ gì?
Một bên là Creator, một bên là Creature. Một bên là Creator, một bên là
Creature. Một bên là Năng sáng tạo, một bên là Sở sáng tạo, Nếu có dính líu gì,
nếu có liên hệ gì thì mới gọi là Năng với Sở, nếu không thì tại sao gọi là Năng
và Sở?
Năng sáng tạo là Thượng đế, Sở sáng tạo là thế giới vũ trụ của chúng
ta. Giữa cái năng và cái sở có một liên hệ mật thiết, như giữa cái trái và cái
phải, cái ngày và cái đêm, cái no và cái đói. Cũng như vật thấy và vật bị thấy,
theo định luật tia tới và tia phản chiếu trong quang học, chúng có liên hệ mật
thiết với nhau. Góc tới thay đổi, thì góc phản chiếu đổi theo liền lập tức. Vì
vậy cho nên cái mà chúng ta gọi là ý chí của Thượng đế, La volonté de Dieu,
cũng dính líu tới cái volonté của ta, cái ý chí của ta.
Thành ra nghiệp báo có thể thay đổi được.
Ba điều cầu nguyện thông thường
Chúng ta có những mong ước, có những điều tâm nguyện, và chúng ta muốn
những điều đó được thực hiện, vì vậy mà chúng ta cầu nguyện.
Đại đa số chúng ta mong ước gì? Trước hết là mong ước về sức khỏe. Tất
cả chúng ta ai cũng mong ước có sức khỏe. Chúng ta mong ước gì nữa? Mong ước sự
thành công. Làm gì chúng ta cũng muốn thành công, đi tu cũng muốn thành công chứ
đừng nói là đi buôn. Chúng ta thường chúc Tết nhau về hai mặt thành công và thịnh
vượng. Điều thứ ba chúng ta mong ước là sự hài hòa. Thiếu điều thứ ba này chúng
ta không sống hạnh phúc được. Chúng ta có liên hệ với những người khác, và nếu
liên hệ giữa ta với những người này không được tốt đẹp thì ta không có hạnh
phúc, vì vậy mà ta cầu cho sự liên hệ hàng ngày giữa ta với người kia có sự hài
hòa.
Ở Đài-bắc có một phụ nữ rất đau khổ vì chồng đi đánh bạc. Bà không biết
làm gì hơn là đến chùa cầu nguyện, xin đức Bồ tát làm sao để chồng mình bỏ bài
bạc, nếu không thì mối liên hệ giữa mình với chồng sẽ rất cực nhọc, rất khổ
đau. Một bên làm lụng, buôn bán tảo tần, một bên phung phí tiền bạc, không để ý
gì đến vợ con. Đó là về vấn đề liên hệ. Người đàn bà này không cầu tiền bạc,
không cầu thành công, không cầu sức khỏe, mà chỉ cầu xin đức Bồ tát cứu giúp,
xui khiến cho chồng mình bỏ bài, bỏ bạc.
Có một phụ nữ khác, tới chùa cầu nguyện để người đàn bà kia buông chồng
mình ra, tại vì chồng mình đang bị đặt dưới ảnh hưởng của một người đàn bà ấy.
Chúng ta hãy tưởng tượng một người đàn bà đang đau khổ, ngày đêm khóc thầm, tại
vì chồng mình đã bỏ rơi mình để đi theo một người đàn bà khác! Trong lòng bà chứa
chất những đau khổ, những oán hận, những ganh tị. Những niềm đau, nỗi khổ đó biểu
lộ ra trong đời sống hàng ngày. Con mắt bà chứa đầy oán trách, lời nói bà chứa
đầy cay đắng. Nhưng bà càng làm như vậy thì ông chồng bà lại càng chán và càng
bám sát lấy người đàn bà kia. Bây giờ người vợ đó chỉ có cách đến chùa để lạy đức
Bồ tát Quán Thế Âm, cầu cho người đàn bà kia buông thả chồng mình ra.
Cầu nguyện như vậy có đúng không, nhất là trong tinh thần đạo Bụt? Có cần
sự thực tập nào đi theo sự cầu nguyện đó hay không? Trong sự cầu nguyện này có
niệm, có định, có tuệ, có từ, có bi hay không? Hay chỉ có sự giận hờn, sự trách
móc, sự ganh tị, sự uất hận mà thôi? Nếu không có những năng lượng của niệm, của
định, của tuệ, của tình thương thì làm sao đường dây có điện? Làm sao lời cầu của
mình thấu đến tai Bồ tát được?
Phải có trí tuệ để thấy rằng mình, chồng mình, và người đàn bà kia có
liên hệ mật thiết với nhau. Phải có những năng lượng phát xuất từ chính mình
thì mình mới có thể thiết lập được liên hệ với chồng, và với người đàn bà kia.
Tất cả những điều đó đều thuộc phạm vi thực tập.
Chúng ta cầu nguyện bằng cách nào? Chúng ta phải cầu nguyện bằng cả
thân, cả miệng và cả ý, nghĩa là ta phải cầu nguyện bằng ý, bằng lời, và bằng sự
sống hàng ngày của ta. Thân-khẩu-ý phải hợp nhất lại trong niệm, và trong tình
trạng gọi là thân tâm nhất như đó, chúng ta mới có thể chế tác ra được cái năng
lượng của đức tin, của thương yêu, và chúng ta mới thay đổi được tình trạng.
Chúng ta hãy nhìn vào ba điều cầu nguyện thông thường của mọi người.
Trước hết là cầu xin sức khỏe. Phần lớn chúng ta đều là những người nghèo mà
ham, đều là những thằng mõ mong được gõ cửa nhà trời! Chúng ta mong mình có cái
sức khỏe gọi là toàn hảo, perfect health. Nhưng cái gọi là sức khỏe toàn hảo đó
chỉ là một ý niệm, nó không bao giờ có thật trong sự sống.
Sở dĩ chúng ta còn sống đây là nhờ chúng ta đã từng có bệnh. Nếu không
bệnh thì chúng ta không thể nào sống được. Người nào trong chúng ta cũng đều đã
trải qua cái thời gian đau vặt vãnh, ốm liên miên, nhất là trong thời thơ ấu.
Con người là một câu lau, một sinh vật yếu đuối, luôn luôn bị hăm dọa bởi những
con vi khuẩn, những con nấm độc. Chúng đầy dẫy ở trong không khí, trong nước uống,
trong thức ăn. Ba loại sinh vật li ti luôn luôn rình rập, hăm dọa chúng ta, là
Vi trùng (Bacteria), Vi khuẩn (Virus), và Nhiễn khuẩn (Fungus).
Chính nhờ những lần đau vặt vãnh, chính nhờ luôn luôn bị bao vây, bị tấn
công bởi những con vi sinh đó, mà trong người của chúng ta mới phát triển ra được
một hệ thống kháng thể, để phòng thủ và bảo vệ cho ta. Như vậy thì nhờ có bệnh,
nên mình mới biết tự vệ để sống còn. Cho nên đừng ham là mình có được một sức
khỏe gọi là không tật bệnh, một sức khỏe tuyệt đối. Không có bệnh thì không có
sức khỏe! Chúng ta phải nhận thức điều đó và phải biết sống hòa bình, an lạc với
bệnh của mình.
Trong bụng hơi đầy hơi thì đừng nói rằng vì đầy hơi nên mình ngồi thiền
không được! Phải tập ngồi thiền với một ít hơi ở trong bao tử. Có hơi ở trong
bao tử mà ngồi thiền có an lạc thì mới gọi là biết tu tập, mới là có điều kiện
để tu tập. Đừng bao giờ nghĩ rằng chừng nào mình hết đầy hơi thì mình mới ngồi
thiền an lạc được! Nếu vậy thì không bao giờ mình có thể tạo được an lạc trong
khi ngồi thiền! Trong chúng ta người nào cũng có một ít bệnh, chúng ta phải ký
một hiệp ước sống chung an lạc với bệnh của mình.
Vì vậy mà trong sự cầu nguyện đừng bao giờ mơ tưởng tới cái gọi là
hoàn toàn không có bệnh. Trong bài Đệ tử kính lạy, mình phải hiểu câu Thân không
tật bệnh là không tật bệnh đến độ không tu tập được. Phải có một sức khỏe tối
thiểu nào đó thì mới tu tập thành công được.
Ví dụ trong khu vườn của chúng ta có ba trăm cây rất đẹp, nào cây
tùng, cây bách, cây bồ đề, cây liễu, cây hạnh, cây lê, cây táo v.v… Trong khu
vườn của chúng ta cũng có thể có ba bốn cây bị chết. Nhưng không phải vì vậy mà
khu vườn không đẹp. Mình đừng than khóc khi thấy ba, bốn cây trong vườn bị chết
khô. Mình phải vui lên vì có đến ba trăm cây trong vườn còn khỏe mạnh! Trong cơ
thể mình cũng vậy. Mình có một bệnh, hai bệnh, ba bệnh. Nhưng những bộ phận
khác của cơ thể mình đang còn tốt. Phải thấy như vậy. Mắt của anh còn tốt
không? Hai lá phổi của chị còn tốt không? Hai chân chú còn đi vững không? Tại
sao mình không sung sướng nhận diện những yếu tố đó của sức khỏe, mà cứ nói rằng
tại sao tôi cứ đau cái này nhức cái kia hoài! Mình phải nhận diện những yếu tố
tích cực. Mình phải biết trong người của mình có thể có tới bảy mươi, tám mươi,
hoặc chín mươi phần trăm cơ phận còn tốt. Đừng bao giờ than phiền, đừng bao giờ
mong cầu một tình trạng sức khỏe gọi là toàn hảo. Cái đó không bao giờ có. Ngay
cả đức Bổn Sư, ngài cũng đã cần có đức A-Nan xoa bóp, ngài cũng đã từng bị bệnh
đau bụng.
Nếu mình có vài ba bệnh, và nếu các tật bệnh đó không trầm trọng đến độ
có thể ngăn cản sự tu tập của mình, thì đó đã được xem là thân không tật bệnh.
Với những ốm đau lặt vặt, mình vẫn có thể hàng ngày an vui tu tập pháp Bụt nhiệm
mầu, để mau ra khỏi luân hồi và giúp được cho nhiều người khác rồi.
Nếu chúng ta có một công thức để cầu nguyện cho mọi người đều có sức
khỏe tuyệt đối thì mọi nhà thương đều đóng cửa, tất cả các y tá, các bác sĩ đều
thất nghiệp! Thành ra chúng ta phải thực tế, đừng mơ tưởng những điều trên mây.
Bệnh tật là một thực tại mà chúng ta phải chấp nhận, chúng ta phải ký một hiệp
ước sống chung an lạc với chúng. Mình chỉ cần một sức khỏe tương đối. Vì vậy,
trong khi cầu nguyện, chúng ta đừng quá đòi hỏi. Nếu tất cả mọi người không bệnh,
không chết, thì làm gì có chỗ để chúng ta ngồi trong thiền đường này? Trái đất
cũng sẽ không đủ chỗ chứa!
Chúng ta phải biết rằng cái bệnh và cái chết là một phần của sự sống.
Điều cầu nguyện thứ hai là sự thành công. Ai cũng muốn thành công. Nhà
buôn muốn thành công với tư cách nhà buôn; nhà văn muốn nổi tiếng, muốn sách
bán chạy; người làm phim muốn phim của mình được nhiều hãng mua. Ai cũng muốn
thành công cả. Người nào cũng muốn cầu nguyện để cho sự làm ăn của mình thịnh
vượng, thành công. Mỗi khi Tết đến chúng ta thường chúc nhau thịnh vượng, nhưng
sự thịnh vượng đó có hẳn là cái yếu tố không thể có của hạnh phúc không? Đó là
câu đáng hỏi.
Ngoài ra, sự thịnh vượng của một người có phải kéo theo sự không thịnh
vượng của người khác hay không? Nếu một nước sản xuất lúa gạo như Việt-nam mà
không xuất cảng được lúa gạo thì nguy lắm. Nếu tất cả các nước đều có thể sản
xuất đủ gạo cho nước mình thì ai là người mua số lúa gạo thặng dư của các nước
khác? Cho nên thỉnh thoảng phải có những năm mất mùa. Thế giới có những nước cần
mua lúa, mua gạo thì những nước sản xuất lúa gạo mới có thể làm ăn được. Vì vậy
cho nên tất cả chỉ có giá trị tương đối mà thôi.
Điều cầu nguyện thứ ba là sự hài hòa. Hài hòa cũng vậy, hài hòa là làm
thế nào để có tình thương, làm thế nào có sự hòa điệu giữa mình và người mình
thương, giữa mình và gia đình mình, giữa mình và xã hội mình. Đây là một yếu tố
khác của hạnh phúc. Chúng ta có thể làm gì và chúng ta có thể cầu nguyện cho điều
này không? Và cầu nguyện theo lối nào, theo công thức nào?
Đó là ba đối tượng cầu nguyện của rất đông người trong chúng ta, nhỏ
cũng như lớn. Thường thường chúng ta cầu nguyện cho chính chúng ta trước, rồi mới
cầu nguyện cho người ta thương. Thông thường thì ta không cầu nguyện cho người
dưng nước lã, và nhất là không cầu nguyện cho những người chúng ta ghét, những
người đã làm khổ ta.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh