ĐÔI ĐIỀU CẦN BIẾT KHI ĐI LỄ CHÙA

 Đi Chùa người ta nghĩ rằng: phía ngoài cái TAM QUAN, bởi vì cái TAM QUAN nói đến triết học của Đạo Phật. Cái KHÔNG QUAN nói lên bản thể cốt nõi của muôn loài muôn vật có sinh thì có diệt. Cái TRUNG QUAN là hiểu biết về Phật, là TRÍ TUỆ qua đó con người giác ngộ về chính mình và đi vào giải thoát của cõi niếp bàn. Cho nên người ta tính phía trước TAM QUAN có tám vạn tư con đường của cuộc đời để dẫn đến TAM QUAN - Là con đường giải thoát và phía sau TAM QUAN chỉ nhất chữ ĐẠO tức là chỉ có con đường giải thoát mà thui.

Cho nên, vào một ngôi Chùa, bao giờ cũng phải đi vào phía bên tay phải của mình tức là bên trái của ngôi Chùa. Khi vào như thế, người xưa bao giờ cũng đặt Tượng Ngài đức Ông phía đó. Đức Ông là Ngài CẤP CÔ ĐỘC - một vị trưởng giả cùng thời với đức Phật khi xuất thế. Mà dùng tiền của mình cưu mang nhưng người Cô đơn Cô quả. Cho nên Ông có cái tên là CẤP CÔ ĐỘC - ấy là cái tên nhân dân đặt cho Ngài. Nhưng Ông lại có công với Đức Phật là mua mảnh vườn của Thái Tử Kỳ Đà dâng cho đức Phật làm tịnh xá đầu tiên. Với cái công đó đức Phật đã thọ kí cho Ngài cai quản mọi cảnh của vườn Chùa. Cho nên, khi đi Lễ bao giờ cũng  phải  Lễ Đức Ông trước -  không phải lễ Đức Ông là để cầu xin Ngài mà để xin phép Ngài chứng giám cho phép vào Lễ Phật. Người Việt tu Phật theo lối thế gian có nghĩa là cần có tượng để noi theo.

Cho nên chúng ta đi lễ Phật đừng bao giờ cúi gằm mặt xuống, mà phải có cách ứng xử trước bàn thờ Phật. Là phải theo lời Phạt dạy: TÂM TĨNH THÌ TUỆ MỚI SINH như thế thì cứ đặt tay trước ngực để đạt được cái chuẩn là mở cái LUÂN XA ALAHATA để phát triển từ Tâm. Tâm có TĨNH thì tay cứ để yên đó, đừng có vái lia vái địa mà Tâm VỌNG ĐỘNG thì không đạt được sự phát triển của trí tuệ, không theo đúng với đạo Phật. Mà khi Tâm TĨNH thì tuệ mới sinh thì đến Chùa, Đền ... các cụ đã dạy: TÂM XUẤT THÌ QUỶ THẦN CHI chúng ta chỉ nghĩ thôi là Quỷ Thần đã biết. Cho nên đối với những người không phải làm Thầy mà đi lễ không phải nói to ra mồm, đọc toáng cả lên, khấn hết bài khấn này đến bài khấn khác, điều đó không cần thiết.

Đặc biệt đối với nhà Phật thì đức Phật có dạy rằng: TÂM TRUYỀN TÂM. Cho nên, TÂM TĨNH TUỆ SINH  và TÂM TRUYỀN TÂM nên cứ lặng lẽ vào lễ, khi lễ chỉ thắp một nén hương. Bởi vì một nén là TÂM HƯƠNG  mà TÂM HƯƠNG gồm: Giới Hương - Định Hương - Tuệ Hương - Giải Thoát Hương - Giải Thoát Tri Kiến Hương. Có GIỚI được thì mới ĐỊNH được tức là có kiêng khem được hay là theo các quy ước được thì mới ĐỊNH được cái Tâm. Mà Tâm có ĐỊNH được thì trí tuệ mới phát triển mới giác ngộ mới giải thoát được, tức là đạt được cái thứ tư GIẢI THOÁT HƯƠNG  và khi GIẢI THOÁT HƯƠNG rồi thì luôn luôn tiến bộ vừa biết vừa thấy rõ ràng, thì đó là GIẢI THOÁT TRI KIẾN HƯƠNG. Hội lại gọi là ngũ hương, ngũ hương là tâm hương. Còn thắp ba nén hương: con số ba là con số lẻ , lẻ thì động, động thì chuyển, chuyển thì biến đổi, biến đổi thì phát triển. Đó là sự cần thiết cho chúng ta lên Chùa để cầu xin một vấn đề nào đó tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Đồng thời ba ném hương cũng thể hiện THIÊN - ĐỊA - NHÂN. và thắp 5 nén hương là NGŨ PHƯƠNG. Với triết lý đó, đi Chùa thường chỉ thắp 1 nén hương hoặc ba nén hương.

Khi hoàn tất công việc làm lễ xong, ta phải nhìn lên bàn thờ Phật, nhìn lên hàng cao nhất ở phía trên là TAM THẾ PHẬT. Các vị này đại diện cho ba nghìn vị Phật, từ QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI tới VỊ LAI hay tất cả các vị Phật trên đời này để hướng tới cái thiện Tâm. Với những gia đình mới có người khuất núi, thì nhìn lên hàng tượng thứ 2 từ trên xuống là tượng DI ĐÀ TAM TÔN  hay DI ĐÀ TIẾP DẪN tiếp đón những người có Phật quả vào cõi Cực Lạc. Nên cầu cho linh hồn của người đã khuất được sự bảo trợ của hệ tượng này, hay của hệ thần linh này hoặc hệ Quan Âm cùng Đại Thế Chí Bồ Tát dẫn linh hồn vào cõi Cực Lạc. Đến hàng tượng thứ 3: Có tượng Đức Phật ở giữa tay cầm bông sen dơ lên, người ta gọi đó là tượng HOA LIÊN, nhưng cả bộ tượng là bộ HOA NGHIÊM TAM THÁNH mà Thánh là trí tuệ, Thần là thiêng liêng. Cho nên, cầm bông sen dơ lên là muốn nói với chúng sinh là: đi đến Chùa là để tìm chính mình. Đó là tìm cái bản thể CHÂN TÂM tức là xóa đi cái bản ngã NHÂN THÂN để nhập về cái ngã ĐẠI ĐỒNG. Tức là xóa bỏ cái cá nhân chủ nghĩa để nhập về cái PHÁP THÂN vi diệu, chỉ có thế,  con người mới tìm về giải thoát.  Ý nghĩa của việc cầm bông sen dơ lên là đức Phật muốn nói với chúng sinh rằng:" Hãy vén cái đám mây mù ngu tối che đậy thân tâm thì tự nhiên ánh sáng trí tuệ sẽ rọi tới". Có nghĩa là phải đi tìm chính mình và hãy dẹp bỏ cái dục vọng để đi vào cái vị tha: thương người như thể thương thân. Còn bên trái của Ngài: có một vị cưỡi con Sư Tử, con Sư Tử là tượng trưng cho trí tuệ. Cho nên vị Bồ Tát cưỡi con Sư Tử là dựa vào trí tuệ để giáo hóa chúng sinh. Ngài là hiện thân của giáo lý cho CHÂN TRÍ tuyệt đối của nhà Phật. Còn vị bên kia, là Ngài Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi con Voi. Con Voi là biểu hiện sức mạnh của trần gian. Cho nên Đức Phật Phổ Hiền cưỡi con Voi là tượng trưng cho CHÂN LÝ tuyệt đối của nhà Phật. Hai vị này hội lại cùng với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cầm bông sen dơ lên đã nói lên một yếu nghĩa rất cao: LÝ và TRÍ, PHÀM và THÁNH, ÂM và DƯƠNG cùng là một hệ, một cội nguồn, nhưng đối với chúng sinh chủ yếu là đi tìm chính mình. Chính vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta rằng: Lên Chùa xin những ước vọng về VẬT CHẤT thì không bao giờ có được, mà chỉ xin về TINH THẦN làm sao cho yên ổn, cho đi sâu vào trí tuệ Phật để đi đến giác ngộ. Đến hàng thứ tư: có một chú bé dơ một ngòn tay chỉ trời một ngón tay chỉ đất, đó là Thích Ca sơ sinh. Mà người Việt ở đất Bắc Bộ là cư dân nông nghiệp, nên luôn nghĩ tới cặp phạm trù ÂM - DƯƠNG đối đãi. Tích Thiện nói rằng: khi Thích Ca sơ sinh lọt khỏi lòng bà mẹ Ma Ra là bà mẹ trần gian, thì Ngài đã bước 7 bước, co số 7 không phải là con số đếm mà là số phiếm chỉ tượng trương cho số nhiều. Có nghĩa là Ngài đã bước vào toàn thế gian vũ trụ này. Trên 7 bông sen là Ngài đã mang lại cho muôn loài muôn vật chứ không phải riêng cho loài người. Và Ngài nói một câu rằng: THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỌC TÔN tức là trên Trời dưới Trời chỉ có ta là người cao quí hơn cả. Nghe câu nói tưởng Đức Phật kiêu căng, ngạo mạn. Nhưng chữ TA không phải là chữ TÔI. TÔI là cá nhân chủ nghĩa, TA là cái ĐẠI ĐỒNG cái thuộc về ĐẠI NGÃ bao trùm tất cả mà quy lại là cái PHẬT THÂN và cái PHÁP THÂN. Đó là câu nói Phật nói với chúng sinh rằng: TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH,  CHÚNG SINH LÀ PHẬT CHƯA THÀNH  muốn thành phải tu luyện về TRÍ ĐẠO và TÂM ĐẠO. Chon nên, bao giờ Đức Phật cũng lấy TRÍ làm đầu, TÂM là thứ 2, NHÂN là thứ 3, CÔNG là thứ 4. Cho nên xây Chùa, xây Chiền là cái thứ 4, chứ không phải cái thứ nhất thứ 2 hay cái thứ 3, mà nhà Phật đã nói: "Dù xây bao nhiêu cái phù đồ cũng không bằng làm phúc cứu cho một người".

Tiếp đến Chùa nào cũng có tượng Hộ Pháp to lớn mặc áo giáp, áo giáp đó gọi là áo giáp NHẪN NHỤC để diệt trừ mũi tên dục vọng nhằm giữ cho thân tâm trong sáng như kim cương. Đồng thời để bảo hộ Phật pháp nên gọi là Hộ Pháp. Thường ở Chùa ta thấy có hai vị: một vị gọi là khuyến thiện, một vị gọi là trừng ác. Các Ông đó cầm vũ khí gọi là Pháp Khí Giới, để trừ các điều ác, chứ không phải để chém giết bất cứ chúng sinh nào. Trong Đạo Phật có nói đến Tam Bảo thì Phật chính là Đức Thích Ca Mâu Ni người sáng tạo ra giáo lý. Pháp tức là giáo lý. Tăng chính là những người đem giáo lý của nhà Phật đi hoằng dương khắp nơi để cứu độ chúng sinh đau khổ. Cho nên trong Chùa lấy trí tuệ để giáo hóa chúng sinh thì chỉ có Thánh Tăng chứ không có Thần Tăng. Vì vậy khi đi vào Chùa, ta phải đi theo chiều quay của chữ Vạn tức là đi ngược chiều quay của kim đồng hồ sẽ làm cho THIỆN CĂN TIẾN BỘ. Còn đi xuôi chiều quay của kim đồng hồ tức là đi ngược chiều tức là đi ngược chiều quay của chứ Vạn sẽ THIÊU ĐỐT THIỆN CĂN. Cho nên đi lễ Chùa phải tuân theo cái giới mà người nhà Chùa cũng như chúng sinh cần phải hiểu biết và thực hiện một cách nghiêm túc đúng tinh thần của đạo Phật: "Tốt đời đẹp đạo".

-ST-