Trong khi cầu nguyện, ta có thể cầu với những người còn sống. Chúng ta
cũng đã đi xa hơn bằng cách nói rằng mình cũng có thể cầu nguyện với trăng sao,
và với cây tùng trước ngõ! Lý do là vì qua trăng sao, qua cây tùng trước ngõ,
và qua những người còn sống, chúng ta có thể tiếp xúc được với năng lượng của bản
môn.
Hồi Bụt còn tại thế, người ta đã bắt đầu thực tập như vậy rồi. Các thầy
đã niệm: “Con về nương tựa Bụt, Buddham Saranam Gacchami”. Không đợi Bụt niết
bàn rồi ta mới thực tập quay về nương tựa Bụt. Ngoài ra, hồi đó người ta cũng
đã cầu tăng. Thầy Mục Kiền Liên đã khẩn cầu tăng thân chú nguyện cho mẹ của thầy.
Nghĩa là các thầy cũng đã thực tập Con về nương tựa Tăng, Sangham Saranam
Gacchami. Tại vì khi các vị xuất gia và tại gia ngồi lại với nhau, đem năng lượng
chánh niệm của mình mà chú nguyện, thì các vị đó có thể tiếp xúc và đánh động tới
cái năng lượng của các vị Bụt, các vị Bồ tát, cái năng lượng của bản môn, để
đem đến một sự thay đổi.
Năng lượng chánh niệm là một năng lượng có thật, mà hễ là năng lượng
thì nó có thể thay đổi. Ví dụ năng lượng mặt trời có thể thay đổi sự sống trên
trái đất. Gió cũng là năng lượng, nước cũng là năng lượng. Chánh niệm của ta
cũng là một loại năng lượng. Năng lượng này có thể thay đổi được tình trạng của
thế giới, của con người. Cho nên tạo được năng lượng chánh niệm, là chúng ta có
thể cầu nguyện.
Trong một bài pháp thoại trước đây, tôi có nói rằng trong tăng thân
chúng ta có những vị Bồ tát sống. Những vị Bồ tát có khả năng nghe chúng ta, hiểu
chúng ta, và có thể đem sức của mình, đem trái tim của mình tới để giúp người
khác được. Điều này có thật. Những vị Bồ tát đó đôi khi còn rất trẻ. Chúng ta đừng
đi tìm các vị Bồ tát ở trên mây. Ngay trong tăng thân này cũng có rất nhiều vị
Bồ tát, và có khi ngủ chung phòng với một vị Bồ tát mà quý vị không hay! Quý vị
có chuyện gì, có lo buồn nào, có sự khó khăn nào, thì vị Bồ tát đang ngủ chung
phòng với quý vị cũng có thể giúp quý vị mà quý vị không biết. Vị Bồ tát bằng
xương bằng thịt kia là chị của mình, là anh của mình, hay là em của mình, mà
mình không biết. Mình ưa đi tìm một vị Bồ tát trong tranh! Có thể tôi đang ở
trong một ngôi nhà, trong đó có đến ba bốn vị Bồ tát mà tôi dửng dưng, và coi
thường.
Bồ tát là gì? Bồ tát là một con người có năng lượng của hiểu, có năng
lượng của thương, và có năng lượng của hành động. Khi mình lâm nguy, khi mình gặp
khó khăn thì vị Bồ tát có thể đến để cứu độ mình. Hiểu nghĩa của Bồ tát như vậy
thì quả thật chúng ta có những vị Bồ tát sống, đang sống ngay trong tăng thân của
chúng ta. Họ đang tu, đang chứng mỗi ngày.
Tu và chứng là chuyện đang xảy ra hàng ngày trong tăng thân. Bước mười
bước trong chánh niệm là tu. Có sự an lạc thảnh thơi trong mười bước đó là chứng.
Tu chứng không phải là vấn đề xa vời. Có những cái tu chứng nhỏ đưa tới cái tu
chứng lớn. Chúng ta thực sự đều là những người có tu và có chứng. Chúng ta phải
thấy như vậy để đừng có mặc cảm trên bước đường tu học.
Trên đây, chúng ta đã có dịp tìm hiểu bài cầu nguyện của các tín hữu
Ki-tô: Bài Lạy Cha. Chúng ta hãy đọc câu cuối của bài này: Xin chớ để chúng con
sa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con ra khỏi sự dữ, Amen. (Do not lead us into
trial, but save us from Evil – Ne nous soumets pas à la pentation, mais délivre
nous du Mal).
Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ, những cám dỗ này là những cám dỗ
của tham, của giận, của chua cay, của nghi ngờ. Cám dỗ của Sa-tăng, cám dỗ của
ba nghiệp chướng[1], của ngũ dục[2].
Theo kinh ngiệm thực tập của chúng ta thì khi ở một mình, chúng ta rất
dễ bị cám dỗ, rất dễ bị sa vào sự cám dỗ. Nhưng khi ở chung trong một tăng
thân, ở với sư anh, sư em, hay với sư chị, sư em, thì chúng ta được bảo bọc bởi
cái năng lượng của tăng thân, và chúng ta sẽ không dễ dàng sa vào sự cám dỗ. Sự
cám dỗ đó có thể là sự sợ hãi. Sợ hãi cũng là một sự cám dỗ.
Vì vậy cho nên cầu nguyện cũng có thể thực hiện bằng hành động, chứ
không phải chỉ bằng lời nói. Khi chúng ta có chánh niệm, khi chúng ta có tăng
thân thì chúng ta ở vào một vị trí vững chãi hơn nhiều. Chúng ta không bị cám dỗ,
chúng ta không bị sa vào những con đường gọi là ác đạo, rơi vào ba con đường dữ;
con đường của ngạ quỉ (tức là loài quỉ đói, đói hiểu biết, đói tình thương
v.v…), của địa ngục, và của súc sanh. Súc sanh là những sinh vật (trong đó có
con người) không biết từ là gì, bi là gì, không có trái tim thương yêu và hiểu
biết.
Chúng ta biết rằng trong xã hội ngày nay có biết bao nhiêu thanh niên,
bao nhiêu thiếu nữ đang ở trong địa ngục. Địa ngục của ma túy, của sự cô đơn, của
sự tuyệt vọng, nhiều lắm, nhiều nhiều lắm! Có những người sống không phải như
những con người, mà như những loài thú vật ở trong thế giới riêng của họ. Có những
người tạo ra địa ngục chung quanh họ, có những người giết chóc, những người cướp
giật, những người hiếp dâm. Có biết bao nhiêu là quỉ đói đang đi lang thang.
Đói tình thương, đói hiểu biết, đói gia đình, đói lý tưởng!
Chúng ta cầu nguyện để không bị sa vào ba con đường dữ đó. Sự cầu nguyện
của mình có thể rất là cụ thể khi mình chấp nhận một hướng đi, khi mình quay về
nương tựa tăng, khi mình thực tập con đường do Chúa Ki-tô vạch ra, do Bụt Thích
Ca chỉ dạy. Nhờ đó mà mình không bao giờ sa ngã trước sự cám dỗ, không bao giờ
sa vào ba ác đạo là địa ngục, ngạ quỉ, và súc sanh.
Như vậy thì người Phật tử cũng không thấy có khó khăn nào khi cầu nguyện
theo chiều hướng của bài Lạy Cha của Ki-tô giáo. Chỉ có điều là người Phật tử
hiểu rằng danh từ Cha ở đây là để chỉ cho cái Bản môn, cái Nhất tâm, cái Phật
tánh.
Tiến trình của y khoa
Ba mục đích thông thường của sự cầu nguyện mà chúng ta đã nói đến trên
đây, trước hết là sức khỏe; thứ hai là sự thành công, sự hanh thông hoặc sự phồn
thịnh; và thứ ba là cái liên hệ giữa người với người.
Chúng ta thường cầu cho cái liên hệ giữa ta và người ta thương được tốt
đẹp hơn, để ta có thể nói chuyện với người đó, để ta có thể có hạnh phúc với
người đó, và quan trọng hơn hết là để cả ta lẫn người đó không vì phiền não mà
sinh bệnh hoạn.
Y Khoa Cơ Giới
Đứng về phương diện sức khỏe, Y khoa đã đi qua nhiều giai đoạn khác
nhau. Trước hết, chúng ta đã từng có một quan niệm hơi máy móc về y học. Chúng
ta nói rằng khi có bệnh thì đó là vì âm dương ở trong cơ thể của ta không dược
điều hòa. Vì vậy cho nên nếu thiết lập được âm dương điều hòa trong cơ thể, thì
đương nhiên chúng ta có sức khỏe. Cái ý niệm đó không sai, nhưng chưa hoàn toàn
đúng. Tại vì trong cái ý niệm đó chúng ta chưa thấy sự liên hệ của tâm đối với
thân. Quan niệm đó gọi là quan niệm Y khoa Cơ giới. La médicine mécanique –
Mechanical medicine.
Chúng ta cứ nghĩ rằng chỉ cần sửa chữa những gì trong phạm vi của thân
thể là chúng ta có thể đem lại sức khỏe. Chúng ta không chú trọng nhiều tới cái
khía cạnh tâm lý. Y khoa Cơ giới chỉ nhìn bệnh ở nơi thân mà thôi.
Danh từ của đạo Bụt gọi thân là sắc, sắc thân, tiếng Phạn là Rūpa, tiếng
Anh là Form. Tuy vậy trong bốn năm mươi năm qua, Y khoa đã tiến bộ rất nhiều. Y
khoa đã thấy rằng sức khỏe của thân thể rất tùy thuộc vào sức khỏe tâm thần của
chúng ta. Có nhiều triệu chứng đau nhức và khó chịu trong thân đã phát hiện từ
cái tâm của chúng. Nếu chúng ta biết thực tập, biết giải quyết những vấn đề khó
khăn, biết khai thông những bế tắc của tâm thì những cái đau nhức đó của thân tự
nhiên biến mất. Đôi khi chúng ta có bệnh ngoài da rất nặng, chữa thế nào cũng
không bớt, và chúng ta không biết rằng đó là do sự lo lắng, do sự buồn khổ mà
ra. Đôi khi bao tử của chúng ta thường rất đau đớn, chúng ta đã uống thử đủ thứ
thuốc nhưng không bớt. Chúng ta không biết rằng đó cũng là do sự lo lắng mà ra.
Chúng ta có những ung thư, có những ung nhọt, sức khỏe của chúng ta đang xuống
dốc, chúng ta cứ tưởng là tại chúng ta thiếu sinh tố, thiếu cái này, thiếu cái
khác. Kỳ thực những triệu chứng đó có thể phát hiện từ những cái bế tắc, những
điều lo lắng, những nỗi khổ đau ở trong tâm của ta.
Y khoa Thân tâm
Ngày nay chúng ta đã có một quan niệm về y khoa rộng rãi hơn, gọi là Y
khoa Thân tâm, thân và tâm là một hay thân tâm nhất như. Tiếng Pháp có thể dịch
là La médicine Psychosomatique. Psycho là danh, Somatique là sắc. Chữ danh ở
trong đạo Bụt (Nāma), có nghĩa là tâm. Danh sắc có nghĩa là tâm thân. Hai cái
đi đôi với nhau, không tách rời nhau được. Con người là một hợp thể của thân
tâm, mà danh từ chuyên môn gọi là một hợp thể danh sắc (Nāma-Rūpa).
Khi Y khoa tiến tới chỗ thân tâm nhất như, là Y khoa đã công nhận rằng
yếu tố danh có ảnh hưởng tới yếu tố sắc, và yếu tố sắc có ảnh hưởng đến yếu tố
danh. Nếu mình lo lắng quá thì mình có thể đau bao tử. Nếu mình đau bao tử thì
mình trở nên bi quan, hai cái có ảnh hưởng lẫn nhau.Cho nên một bác sĩ thông
minh là một bác sĩ biết nhìn cả hai mặt của con người để chữa trị. Anh chàng bị
bệnh ngoài da mà chữa hoài không lành đó, nếu mình bày cho anh ta cách đi thiền
hành, bày cho phương pháp buông thư, thì có thể anh sẽ hết bệnh mà khỏi phải uống
thuốc hay bôi thuốc gì cả.
Ngành Y khoa gọi là Mechanical medicine đã được thay thế bằng
Psychosomatique medicine trong vòng 40 năm nay. Một bước tiến rất lớn của nền y
học.
Y khoa Cộng nghiệp
Ngày nay, chúng ta đang ở ngưỡng cửa giai đoạn thứ ba của Y khoa.
Chúng ta đã tìm thấy rằng có những yếu tố chữa trị ngoài sắc, và ngoài danh, tức
là ngoài cả thân lẫn tâm! Bệnh tật của chúng ta có thể tới từ một nguyên do
không phải từ tâm hay từ thân của chúng ta. Ảnh hưởng đó có thể đến từ một đối
tượng rất xa ta, trong không gian cũng như trong thời gian.
Tới từ trong không gian, ví dụ người thương của chúng ta ở quê nhà
không có hạnh phúc, thì ở đây chúng ta bệnh! Hoặc là người ta thử bom nguyên tử
ở Đại Dương Châu, thì bên này chúng ta cũng có thể vì ảnh hưởng của việc thử
bom đó mà bị bệnh.
Ảnh hưởng đó cũng có thể tới từ trong thời gian. Ví dụ hôm nay chúng
ta bệnh, thì có thể là 20 đời về trước, tổ tiên của chúng ta đã làm một điều
không lành! Hoàn cảnh thời gian và không gian có ảnh hưởng tới ta như vậy đó, rất
lạ lùng, rất dễ sợ!
Giai đoạn y khoa thứ ba này, mình tạm đặt tên là Y khoa Cộng biểu,
Collective manifestation, hay Cộng nghiệp, Collective Karma, hoặc là Cộng thức,
tức là Tâm thức cộng đồng, Collectie conciousness.
Vì tâm thức cộng đồng bệnh cho nên chúng ta bệnh theo. Mà tâm thức cộng
đồng của xã hội ngày hôm nay đang bệnh lắm! Vì vậy mà chúng ta phải biết bảo vệ
chúng ta, phải biết phòng hộ và chuyển hóa cho mình. Muốn vậy, chúng ta phải tạo
ra một tăng thân, tạo ra một tâm thức cộng đồng để bảo vệ cho chúng ta. Ở trong
thành phố, chỉ cần nhìn, chỉ cần nghe, chỉ cần tiếp xúc với một số người là
chúng ta bệnh. Nhưng về tu viện, chúng ta đóng cánh cửa đó lại, chúng ta mở ra
những cánh cửa tâm linh của tăng thân, thì chúng ta hết bệnh. Những nguyên do của
bệnh hoạn nằm ở trong tâm, trong thân, và chúng còn nằm ở trong một môi trường
lớn lao hơn, đó là môi trường của Tâm thức Cộng đồng.
Ví dụ ở ngoài đời có nhiều người nghĩ rằng khi mình không có khả năng
đậu được một bằng cấp gọi là Tiến sĩ, hay tốt nghiệp một chương trình gọi là kỹ
sư; hoặc khi mình không có một công ăn việc làm đàng hoàng; hay khi mình không
có một chiếc xe hơi, thì mình không phải là một con người bình thường có giá!
Mình được mô tả như là một con người không có khả năng. Cái giá trị của con người
được đánh giá ở chỗ mình có một cái bằng cấp, mình có một công ăn việc làm, và
mình có một chiếc xe hơi! Những suy nghĩ đó tạo thành một tâm thức cộng đồng.
Khi mình không có những thứ đó thì chính mình cũng đánh giá mình rất
thấp, mình cho mình không phải là người bình thường. Trong khi đó, thật sự ai
là người bình thường? Ai là người có hạnh phúc? Đó mới chính là câu hỏi.
Biết bao nhiêu người có bằng cấp, biết bao nhiêu người có công việc
làm ăn, biết bao nhiêu người có xe hơi nhưng họ vẫn đau khổ. Lắm lúc họ nghĩ là
họ đang sống một cuộc đời không đáng sống! Trong khi đó thì có rất nhiều người
không cần bằng cấp đó, không cần công việc kia, không cần chiếc xe hơi nọ, mà vẫn
sống rất hạnh phúc, và họ gây được hạnh phúc cho rất nhiều người.
Nếu mình cứ để cho cái tâm và cái thân của mình bị ảnh hưởng bởi cái
tư duy của cộng đồng kia, bởi những niềm tin kia, bởi cái quan niệm kia thì
mình sẽ trách mình, mình nói mình là người bất lực, không có khả năng! Sự sầu
khổ, sự thất vọng đó sẽ làm cho mình bị bệnh.
Trong khi đó thì người tu biết đường đi của họ. Họ biết rằng hạnh phúc
của họ không tùy thuộc vào bằng cấp ấy, vào công ăn việc làm ấy, vào chiếc xe
hơi ấy, như vậy mà họ có sức khỏe, họ rất thảnh thơi.
Cho nên chúng ta có thể dịch Y Khoa cộng nghiệp hay Y khoa cộng đồng
là La médicine de la manifestation collective, và tiếng Anh là Collective
manifestation medicine. Mình sẽ tìm một danh từ khác hay hơn, nhưng ở đây mình
tạm dùng các danh từ này. Mình cũng có thể dùng danh từ Y khoa Nhất tâm, The
medicine of one mind. Nhất tâm là tâm thức cộng đồng, trong đó có tâm thức của
các vị Bồ tát, của chư Bụt, và của chúng ta.
Trong nhất tâm có phần chân tâm và phần vọng tâm. Một điều gì xảy ra
trong không gian và trong thời gian đều có ảnh hưởng tới cái nhất tâm này cả.
Phải thấy như vậy thì chúng ta mới hiểu được giai đoạn thứ ba này của y khoa.
Những cái xảy ra có thể rất xa trong không gian, cũng như trong thời
gian. Ngày xưa khi nhà khoa học Kepler[3] khám phá ra rằng trái đất bị ảnh hưởng
của mặt trăng, ông tìm thấy rằng thủy triều ở trên mặt đất là do sức hút và sự
vận chuyển của mặt trăng tạo ra. Lúc đó không ai chịu nghe ông, tại vì hai tinh
cầu ở xa nhau quá, và có dính líu gì nhau đâu mà nói trái đất bị ảnh hưởng của
mặt trăng? Cho nên khi Galileo[4] nghe Kepler nói vậy thì cho rằng anh chàng
này còn trẻ quá, chỉ biết nói chơi! Ngày nay thì ai cũng biết rằng thủy triều
trên trái đất là hoàn toàn do sức hút và sự vận chuyển của mặt trăng tạo ra.
Sức khỏe của chúng ta cũng vậy. Đừng nói những người ở gần ta, có những
người ở xa ta ngàn dặm, mà cũng góp sức làm ra sức khỏe của chúng ta! Những gì
đã xảy ra, những gì người đó làm, người đó suy nghĩ, đều có ảnh hưởng đến sức
khỏe của chúng ta. Vì vậy cho nên trong giai đoạn Y khoa Cộng nghiệp này, bác
sĩ phải biết cầu nguyện cho bệnh nhân. Tại vì cái năng lượng của bác sĩ, cái
chánh niệm của bác sĩ và cái tình thương của bác sĩ, có liên hệ trực tiếp đến sức
khỏe của bệnh nhân.
Bác sĩ không còn có thể làm việc với tư cách của một cái máy nữa. Ví dụ
như: “Cởi áo ra; thở vào đi; thở ra đi; há miệng ra và lè lưỡi ra cho tôi xem,
nói “à” đi”. Khám xong thì “Đây là toa thuốc, mua và về uống đi v.v…” Bác sĩ
không còn có thể chỉ làm những điều đó. Trong giai đoạn thời nay, bác sĩ phải
làm khác đi. Bác sĩ phải biết nói: Tôi sẽ cầu nguyện cho anh, tôi sẽ cầu nguyện
cho chị, chúng ta ngồi đây, chúng ta thở đi, chúng ta dừng cái tâm của chúng ta
lại cho nó an tịnh. Thế nào sức khỏe của anh, của chị cũng sẽ tăng tiến, bệnh tật
của anh, của chị cũng sẽ thuyên giảm.
Một vị bác sĩ của thời đại này, trước khi đến phòng mạch, phải ngồi
thiền, phải thực tập hơi thở vào, ra. Sau khi khám xong, đã cho toa rồi, về
nhà, bác sĩ phải cầu nguyện cho các bệnh nhân của mình.
Nếu mình không phải là người bệnh, mà là anh của người bệnh, chị của
người bệnh, mẹ của người bệnh, thì mình cũng phải làm như người bác sĩ kia.
Mình không thể nói rằng em của mình đau, mình đưa nó đến bác sĩ là mình đã làm
tròn nhiệm vụ. Trong cái thấy thứ ba này về y khoa, mình chịu trách nhiệm về sức
khỏe của người mình thương. Mình sống cho thoải mái, mình sống cho chánh niệm,
trong tâm mình phải có năng lượng của thương yêu, của cầu nguyện, thì cái sức
khỏe của người mình thương mới có thể phục hồi được.
Trước đây tôi có nhắc đến bài viết của bác sĩ Larry Dossey. Ông còn
nói rằng trong thời đại này, chúng ta phải mở cửa cho nền y khoa thứ ba đó. Ông
nghĩ một ông bác sĩ mà không cho phép người ta cầu nguyện cho bệnh của mình,
thì bác sĩ đó có thể bị đưa ra tòa. Tại vì cầu nguyện, tĩnh tâm, sống an lạc,
thì có thể tạo được nguồn năng lượng để chữa trị cho người bệnh. Vì vậy nếu cấm
không cho cầu nguyện là có thể phạm vào pháp luật. Thành ra các nhà làm luật phải
đưa điều này vào bộ luật mới. Nói như vậy có nghĩa là khi chữa bệnh, bác sĩ
không chỉ chữa trị bằng cái kiến thức về y khoa của mình, mà còn phải chữa bằng
trái tim của mình, bằng sự cầu nguyện của mình nữa.
Là một tăng thân, chúng ta biết rằng cái chánh niệm, cái an lạc và cái
thảnh thơi của chúng ta rất có liên hệ đến bệnh tình của người thương của chúng
ta. Cho nên trong những buổi ngồi thiền, tăng thân phải phóng từ quán và bi
quán về cho những người thân của mình. Tại vì khi mình chế tác được năng lượng
của từ và bi trong tâm mình, thì năng lượng ấy trước hết chữa trị cho mình. Kế
đến, năng lượng đó mới chữa trị cho người mình thương.
Cái năng lượng đó nằm ở trong tâm thức cộng đồng, cho nên nó không cần
phải đi từ điểm này đến điểm khác ở trong không gian như chúng ta thường nghĩ.
Dù sư chị Đàm Nguyện đang ở Hà-nội, nhưng cái giây phút mà tôi ngồi thiền để
phóng từ quán về cho sư chị, thì sư chị nhận được liền lập tức. Cũng như thiền
sinh Jim Foster, mấy ngày hôm nay trong các thời thiền, tôi đều có phóng cái
năng lượng của từ quán và bi quán cho anh ta, cũng như cho thân phụ của thầy
Sariputra, và cho thầy Thiện Trì. Tôi tin chắc ít nhiều gì cũng có kết quả. Có
thể là nó ít hơn mình mong đợi, nhưng chắc chắn là có.
Thành ra khi các thân hữu và đệ tử của tôi cầu nguyện cho tôi, chắc chắn
là tôi có nhận được, và khi mà tôi cầu nguyện cho họ thì họ cũng nhận thêm được
năng lượng. Tại vì mình biết nhau, mình thương nhau cho nên rất dễ cho mình chế
tác ra năng lượng của từ bi và của thương yêu từ trái tim của mình.
Cái mà bác sĩ Larry Dossey gọi là vệ tinh viễn thông hay Thượng đế, là
cái Nhất tâm. Trong cái Nhất tâm đó, có những khối năng lượng rất lớn. Nếu
chúng ta dùng cái năng lượng của từ quán và bi quán của chúng ta mà xúc chạm
cái năng lượng của Nhất tâm đó, thì chúng ta có thể chuyển hóa, có thể thay đổi
được tình trạng của chúng ta.
Như vậy trong lịch sử Y học, giai đoạn đầu của y khoa là Y khoa Cơ giới.
Giai đoạn thứ hai là Y khoa Thân tâm Nhất như, và giai đoạn hiện tại mà y khoa
đang vươn tới là Y khoa Nhất tâm. Y khoa Thân tâm Nhất như, danh từ đạo Bụt còn
gọi là Y khoa Danh Sắc.
Chúng ta biết rằng trong giáo lý 12 nhân duyên, ta học rằng từ thức mà
phát hiện danh sắc; danh sắc là một giai đoạn của sự phát hiện của cộng biểu, của
sự phát hiện cộng đồng. Thức đây là Tàng Thức, là A-lại-gia. Danh là tâm của
ta, và sắc là thân của ta. Từ danh sắc sẽ phát hiện ra lục nhập. Lục nhập tức
là sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì danh sắc
có thể bị xao xuyến, bị rung động, bị vướng mắc, bị bệnh. Cho nên phải tu học để
cho lục nhập đừng là cái nguồn gốc của bệnh tật. Sự thực tập của chúng ta ở
Làng Mai là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, thì chúng ta đem ý thức tinh
chuyên để phòng hộ, tức là ta phải phòng hộ sáu căn để đừng lâm bệnh.
Nhưng danh sắc từ đâu mà có? Danh sắc từ thức. Thức đây là tâm thức cộng
đồng, còn danh đây là tâm thức cá nhân, tuy nó vẫn chuyên chở trong nó tâm thức
cộng đồng. Thức là từ A-lại-gia thức (ālayavijñāna – Store consciousness) phát
hiện ra. Con người chúng ta gồm có tâm và thân. Cái sức khỏe của thân-tâm này,
một phần do lục nhập tạo ra, một phần do thức tạo ra.
Vì vậy mà y khoa ngày nay phải đi tìm nguồn gốc của bệnh tật ở trong
A-lại-gia thức, tức là ở trong cái tâm thức cộng đồng. Bác sĩ học sáu năm ở trường
Y khoa không đủ, tại vì tại trường Đại học Y khoa người ta không dạy phép chẩn
bệnh bằng cách đi thám hiểm trong vùng tàng thức. Tuy rằng các bác sĩ tâm lý có
được dạy về phương pháp chẩn bệnh trong vùng vô thức, nhưng vùng vô thức chỉ là
một phần nhỏ của A-lại-gia thức mà thôi.
Sống trong một môi trường bệnh hoạn, bị ảnh hưởng cách suy tư, nói
năng, và hành động tiêu cực của môi trường ấy, sớm muộn gì ta cũng ngã bệnh.
Trong môi trường này, thiên hạ đi tìm thỏa mãn những dục vọng, gây ra khổ đau,
tuyệt vọng và chán chường, tàn hại thân tâm, bít lấp tương lai. Muốn hết bệnh,
ta phải cương quyết ly khai môi trường ấy, tìm tới một môi trường lành mạnh, thực
tập sống một cuộc sống lành mạnh, nương theo ba quy và năm giới, có sự bảo hộ
ngày đêm của Bụt, các vị Bồ tát, và một tăng thân đang đi trên đường hướng thiện
thì ta mới được bảo hộ, và mới có cơ hội trị liệu. Vị y sĩ của nền Y khoa Nhất
Tâm phải biết hướng dẫn bệnh nhân của mình đi trên con đường này.
A-lại-gia thức là tâm thức cộng đồng. A-lại-gia thức phát hiện ra
sông, ra núi, ra hồ, ra ao, ra không khí, ra nước, ra con chim, con cá. A-lại-gia
làm phát hiện ra y báo. Y báo tốt đẹp hay xấu xa cũng do ta biết ly khai con đường
xấu ác để hội nhập vào một môi trường lành mạnh. Quí vị đã học Duy biểu thì biết
điều này.
Rất nhiều bệnh tật của thân và của tâm chúng ta, phát sinh từ cái tâm
thức cộng đồng. Sự trị liệu cho thân tâm chúng ta tùy thuộc một phần lớn ở tình
trạng của tâm thức cộng đồng đó, cho nên nếu người thương của chúng ta, nếu bác
sĩ của chúng ta, nếu tăng thân của chúng ta biết cách tạo dựng, chế tác năng lượng
của tình thương yêu, của cầu nguyện để chiếu về ta, bao bọc lấy ta, thì ta sẽ
lành bệnh. Những viên thuốc, những chai thuốc mua ở nhà thuốc không đủ sức trị
liệu chứng bệnh của chúng ta. Những phương pháp luyện tập mà bác sĩ dạy cho
chúng ta, cũng vẫn còn không đủ thiếu gì trong việc trị liệu. Bác sĩ phải tìm tới
tâm thức cộng đồng và giúp ta đi vào một tâm thức cộng đồng lành mạnh thì sự chữa
trị mới thêm phần hiệu lực.
Sự cầu nguyện, sự hộ niệm cho người bệnh như trong đạo Bụt thường làm,
là rất quan trọng cho sự chữa trị bệnh tật.
Trong đạo Bụt, chúng ta rất tin ở năng lượng cầu nguyện mà chúng ta gọi
là hộ niệm. Tin nhưng chúng ta không mê tín, vì chúng ta biết rằng sự cầu nguyện
này, sự hộ niệm này nó căn cứ trên những sự thật rất khoa học, đó là: Khi tăng
thân ngồi lại với nhau và chế tác ra cái năng lượng của sự hộ niệm, thì chắc chắn
năng lượng ấy sẽ có ảnh hưởng rất lớn, có thể chuyển đổi được tình trạng người
thương của chúng ta.
Chúng ta còn biết thêm rằng thức này cũng có thể được nuôi dưỡng, được
tạo tác bởi cái vô minh, tiếng Anh gọi là Ignorance. Cái ignorance càng nhiều
chừng nào thì chúng ta càng có nhiều nguyên do của bệnh chừng đó. Sự tu tập mỗi
ngày của ta, của bạn ta, và của xã hội ta tạo ra cái minh, nhờ đó mà cái vô
minh được chuyển hóa và vắng mặt dần dần. Khi cái minh được tạo ra thì ta có từ,
có bi. Minh đây có nghĩa là hiểu biết, từ và bi đây là có nghĩa là thương yêu.
Mà có nhiều hiểu biết hơn, có nhiều thương yêu trong tâm thức cộng đồng, thì
tình trạng sức khỏe của cá nhân sẽ khá hơn. Ta sẽ ít cần đi bác sĩ hơn!
Theo
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
[1] Nghiệp có nghĩa là hành động. Ba chướng nghiệp là ba hành động bất
thiện và cố ý của thân, khẩu, và ý. Chính chúng sẽ tác động sự tái sinh, tạo
nên sự luân hồi của người gây nghiệp.
[2] Là sự tham ái đối tượng thuộc về năm giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi,
và thân) và sự thỏa mãn nơi các đối tượng đó: Sắc, thanh, hương, vị, và xúc.
[3] Johann Kepler, Thiên văn và Toán học gia người Đức (1571-1630)
[4] Galileo Galilei, nhà Vật lý, Toán học và Thiên văn học người Ý
(1564-1642), phát minh ra Viễn vọng kính Thiên văn đầu tiên (1609) để quan sát
vũ trụ.