Việc trưng bày, bài trí trên bàn thờ ngày Tết, có mấy thứ
chúng ta không thể thiếu được, nó cũng thuộc văn hóa dân tộc. Thứ nhất, là mâm
ngũ quả. Mâm ngũ quả mỗi miền mỗi khác.
Mâm ngũ quả của miền Bắc bao giờ cũng phải có chuối tiêu
xanh, bưởi, phật thủ, có cam và quýt, cứ đủ năm thứ quả là được, tùy theo giàu
nghèo mà bày nhiều hay bày ít. Trong mâm ngũ quả lúc nào cũng có bày một nải
chuối lớn hay là hai nải chuối ghép thành một, biểu thị cho hai bài tay, các quả
chuối biểu thị cho các ngón tay, nâng đỡ tất cả các thứ hoa quả bên trong. Biểu
tượng cho tấm lòng thành kính của chúng ta, dâng lên Ông Bà Tổ Tiên, kính lên
trời đất tất cả những thành quả chúng ta đã làm được.
Ngoài ra, mâm ngũ quả mang một ý nghĩa đó là biểu hiện cho sự
sinh sôi, nảy nở, biểu thị cho ngũ hành tương sinh: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ,
thổ sinh kim, kim sinh thủy và thủy sinh mộc. Năm yếu tố này tương sinh thì làm
cho vạn vật được phát triển vì vậy trung tâm của bàn thờ phải được bày một mâm
ngũ quả. Và một ý nghĩa khác nữa, mâm ngũ quả ấy cũng chính là hình ảnh biểu thị
cho ngũ phúc.
Thứ hai là một cành đào, nếu không có đào thì phải là hoa cúc
vạn thọ. Thực tế, chỉ có ở miền Bắc chúng ta mới có hoa đào. Các quốc gia khác
mặc dù cũng có hoa đào nhưng trong ngày Tết thì lại không có. Ví dụ như người
Trung Quốc ăn Tết không có hoa đào, bởi vì đào của Trung Quốc phải tháng ba mới
có hoa, đào của Nhật Bản cũng phải tháng hai, tháng ba mới nở hoa, bởi vì xứ của
họ lạnh, có tuyết nên không có hoa đào vào thời điểm đầu năm. Chỉ có Việt Nam
và ở miền Bắc, hoa đào mới nở đúng vào ngày Tết.
Cành đào được trang trí trong nhà vào ngày Tết có hai ý nghĩa,
ý nghĩa đầu tiên là để xua đuổi ma quỷ. Có một sự tích như sau: Xưa kia, vào thời
hoang sơ, người và quỷ ở cùng nhau, ma quỷ thường hay nhiễu nhương, tác oai tác
quái ở trên thế gian. Lúc bấy giờ, ở trên vùng Tản Lĩnh và Sóc Sơn, có một cây
đào rất lớn, có hai vị thần cai quản cây đào này, một vị tên là Trà, một vị tên
là Uất Lũy. Người dân đã cầu các vị thần giúp đỡ họ làm cách nào để xua đuổi,
trừ khử tà ma, và các vị Thần đã cho họ những cành đào để về cắm ở trước cửa
nhà.
Từ đó, ma quỷ trông thấy cành đào thì thấy uy đức của các vị
thần, nó liền bỏ chạy. Chính vì vậy, chúng ta mới quan niệm rằng, từ ngày hai
mươi ba tết trở đi, các Thần đi vắng, ngoài việc dựng cây nêu, thì còn trưng
thêm cành đào để mang ý nghĩa trừ tà, đuổi ma quỷ, không cho chúng xâm nhập vào
trong nhà nữa.
Ý nghĩa văn hóa thứ hai, hoa đào còn biểu thị cho sự trường
thọ. Cho nên chúng ta thấy có tranh vẽ, ông Thọ được dâng đào là như vậy. Vì
đào là biểu thị cho sự trường tồn, là biểu tượng cho trường thọ, nên nếu không
có đào, thì thay bằng hoa cúc vạn thọ. Gia đình nào nghèo khó, không có hoa đào
hay cúc vạn thọ thật để bày, thì họ dùng hoa giấy. Những người có tuổi sẽ biết
đóa hoa cúc vạn thọ được làm bằng trang kim, bằng giấy thiếc vàng, giấy thiếc đỏ
được cuốn nhiều tầng, xung quanh là các hoa giấy. Những bông hoa cúc ấy được
làm nên để thay thế cho hoa đào bởi vì ngày xưa, chỉ nhà giàu mới chơi được đào
mà thôi, dân chúng không có đào thật, phần lớn thay đào bằng cúc là như vậy.
Ngoài ra màu đỏ của hoa đào đem lại sự may mắn, hạnh phúc (gặp vận đỏ).
Thứ ba, là cây quất. Cây quất là một loại cây xum xuê, nhiều
quả biểu thị cho tài lộc. Ba thứ: Mâm ngũ quả, đào, quất là biểu thị cho Phúc,
Lộc, Thọ. Đây là biểu tượng văn hóa.
Mâm ngũ quả là biểu thị
cho ngũ phúc. Cây đào hay cúc vạn thọ là biểu thị cho sự trường thọ. Cây quất
nhiều quả, xum xuê chính là biểu thị cho lộc. Có đầy đủ: Phúc, Lộc, Thọ luôn là
mong ước của tất cả mọi người. Do đó, những vật này ngoài việc mang tính trang
trí để thờ cúng, là một biểu tượng văn hóa thì nó còn mang ý nghĩa ước vọng. Vì
vậy, trong ngày Tết, dù có nghèo đến đâu thì ba thứ đó vẫn phải sắm cho đầy đủ,
nó giống như một điểm tựa mà chúng ta gửi gắm niềm mong ước, mong cầu vào năm mới
được đầy đủ và sung túc hơn.
P/S: Ngũ Phúc là một từ nguyên ở trong thiên "Hồng Phạm"
của Kinh Thư, (tức là bộ sách do Khổng tử và các đệ tử san định, sưu tập và dẫn
giải 305 bài gồm phong dao bình dân (phong) cũng như những ca từ của giới quý tộc
(nhã và tụng) của các nước nhỏ từ 2500 năm trước ở Trung Quốc) thì ngũ phúc gồm:
thọ (sống lâu), phú (giàu có); khang ninh (yên lành); du hảo đức (có đức tốt);
và khảo chung mệnh (thọ hết tuổi trời).\
1. Trường thọ là không bị chết non, phúc thọ là lâu dài
2. Phú quý là tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý.
3. Khang ninh là thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên ổn.
4. Hiếu đức là tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh.
5. Thiện chung là có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình. Khi
lâm chung không gặp tai họa, thân thể không đau đớn vì bệnh tật, trong lòng
không vương vấn và phiền não, ôn hoà tự tại rời khỏi nhân gian.
Trích: Kể chuyện Tết -
TT Thích Tiến Đạt viện chủ viện Tịnh Luận Chùa Đại Từ Ân chia sẻ tại Lễ Tất
niên, Chùa Ngòi - Hà Đông 2018
