Ý NGHĨA BA NGÀY TẾT VÀ CÁC PHONG TỤC TRONG BA NGÀY TẾT

Theo phong tục tập quán của người Việt, chúng ta có ba ngày Tết, nên người xưa nói: “Mùng 1 tết Cha, mùng 2 tết Mẹ, mùng 3 tết Thầy”.

Sáng mùng 1 Tết, con cháu làm mâm cơm cúng Ông Bà, Tổ Tiên rồi đi lễ Đình, lễ Chùa. Người xưa quan niệm, ngày mùng 1 Tết là ngày dành riêng cho bên nội. Vì thế các gia đình truyền thống, các dòng họ truyền thống ở nông thôn, con cháu lại tề tựu cùng nhau dâng hương. Đây chính là nghĩa cử cao đẹp, báo đáp bốn ân, là sự gợi nhắc đến truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, "Tôn sư trọng đạo", là những giá trị tốt đẹp của mỗi người dân Việt Nam.

Tại các nhà thờ Tổ, nhà thờ Họ, từ đường... và ở quê nhà chúng tôi, thì lễ Tết bao giờ cũng phải có một cặp bánh chưng, nếu có năm bảy nhà thờ thì phải có năm bảy cặp bánh chưng dâng lễ. Các cụ lớn tuổi thì sắm sửa lễ nghi ra Chùa. Các cụ dậy rất sớm, từ 3 - 4 giờ sáng đã dậy để chuẩn bị đồ lễ như: Xôi gấc, chè con ong, hoa quả bánh kẹo... bao nhiêu ban thờ thì chuẩn bị bấy nhiêu lễ. Rồi cháu dâu, con dâu đi cùng Bà nội, cùng mẹ chồng gánh lễ lên Chùa. Sau khi lễ xong, người ta hạ lễ và kính biếu Thầy trụ trì rồi mới mang lễ đó về thắp hương Ông Bà Tổ Tiên với mục đích để Ông Bà Tổ Tiên hưởng lộc Phật.

Sau khi làm lễ cúng Ông Bà Tổ Tiên, con cháu sẽ chúc Tết Ông Bà, Cha Mẹ và được Ông Bà, Cha Mẹ mừng tuổi, người xưa gọi tiền mừng tuổi là Lì xì theo tiếng Trung Hoa. Số tiền mừng tuổi này không nhiều và chỉ mang tính chất văn hóa là cho các cháu tiền giấy bút, học hành, mừng cho con cháu thêm tuổi mới. Tiền này thường dùng giấy đỏ để làm phong bao, trong đó đựng tiền mới và thường là tiền lẻ. Theo thuyết âm dương ngũ hành thì số lẻ thuộc số dương, số biểu trưng của sự sinh sôi. Còn nếu thứ gì chẵn rồi, tròn trịa rồi thì không thể phát triển được nữa. Nên các cụ thường chỉ cho năm, bảy, chín xu chứ không cho cả một hào. Và con cháu cũng theo nghĩa cử ấy, mà cũng mừng tuổi và chúc Tết Ông Bà.

 “Mùng 2 Tết Mẹ”, vợ chồng con cái sẽ sang chúc Tết bên nhà ngoại, tức là bên "Mẹ". Đó là lí do người xưa gọi mùng 2 là "Tết Mẹ". Cũng giống với mùng 1 Tết Cha (bên nhà nội), con cháu sẽ chúc Tết Ông Bà, Bố Mẹ bên ngoại, cùng nhau có những giây phút quây quần ấm áp. Đặc biệt, với những nàng dâu lấy chồng xa quê, ít có điều kiện về thăm nhà, thì đây là cơ hội lí tưởng để sum vầy, hàn huyên với bố mẹ đẻ và thăm hỏi họ hàng, anh em, bạn bè sau một thời gian dài không gặp. Đây cũng là văn hóa mà chúng ta không thể quên nhắc nhở bản thân rằng: Mình có hình hài và được như ngày hôm nay là nhờ ơn sinh thành của cha, mẹ. Cho nên mùng 1 Tết Cha, mùng 2 Tết mẹ là như vậy, mục đích nhắc nhở người con luôn phải uống nước nhớ nguồn, nhớ ơn đức Tổ Tiên, giữ tròn Hiếu đạo.

“Mùng 3 Tết Thầy”, Thầy là người đã dạy dỗ, đào tạo, nuôi lớn mình qua những con chữ, vì vậy chúng ta không được quên ơn Thầy. Ngày "Tết thầy" cũng được xem như là "ngày Nhà giáo Việt Nam" thời xưa - khi ngày 20/11 chưa chính thức ra đời, là cơ hội để biết bao thế hệ học trò tỏ lòng biết ơn đến những người "lái đò". Ngoài ra, đây cũng là dịp chúng ta giao lưu với những người bạn cũ sau một năm dài ít khi có cơ hội gặp gỡ.

Trong những ngày này, người ta đi thăm hỏi, chúc Tết họ hàng nội ngoại, hàng xóm, láng giềng, đến mỗi nhà một chút, uống nước nói chuyện. Mặc dù ngày thường thì vẫn đến, nhưng đến ngày Tết họ dành thời gian và tâm thái trân trọng, hân hoan khác ngày thường. Khi có khách tới nhà, hay có người xông đất thì chúng ta phải bày hoa quả, bánh kẹo...pha trà, rót nước, thậm chí ngày xưa còn làm cả mâm cỗ, khách đến ăn mỗi thứ một chút lấy lộc. Đặc biệt, đối với người tới đầu tiên (người xông đất) thì đôi khi cũng sẽ có phần lì xì nhỏ, chúc Tết cho gia chủ, rồi gia chủ cũng lại đáp bằng phong bao lì xì khác, đây cũng là một dạng giao lưu văn hóa tạo lên sự thân thiết và tôn trọng.

Thường thì ba ngày tết, ngày nào cũng phải làm cơm để cúng, mùng 1, mùng 2, mùng 3, mùng 4 và mùng 5. Người xưa thường nói: “Đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết”. Hai ngày cuối cùng của ngày Tết, người ta làm lễ hóa vàng. Ngày xưa các gia đình mua vàng mã bày lên ban thờ Tổ Tiên, tới ngày mùng 4 Tết đốt đi thì gọi là hóa vàng. Với ý nghĩa là tiễn Ông Bà, Tổ Tiên về trời, lúc đó mới gọi là hết Tết. Và hai ngày cuối cùng này, các thành viên trong gia đình xum họp lại, ăn cùng nhau trước khi mỗi người, mỗi thành viên quay trở lại với công việc và cuộc sống thường ngày.

Tuy đã tiễn Ông Bà Tổ Tiên, và đã gọi là hết Tết, nhưng với người dân thì tới ngày mùng 7 mới làm lễ hạ cây nêu. Ngày mùng 7 cũng được gọi là ngày Khai Hạ, là ngày hạ cây nêu xuống, khai mở sự kiện cấy cày hay còn gọi là lễ động thổ. Bởi vì, từ ngày 23 tháng Chạp, người ta quan điểm các vị thần đi vắng, không ai cai quản, phải cho đất nghỉ nên không ai ra đồng cày cuốc. Người ta kiêng, nếu chưa làm lễ động thổ mà cày cuốc, năm đó chẳng may mất mùa hay bị làm sao, dân làng sẽ phạt vạ. Do đó, dù bận rộn đến mấy, người dân cũng nghỉ, không cày cấy, cuốc đất.

Ngày động thổ, cũng là ngày Thần Thổ Công chính thức trở về và bắt đầu công việc của Ngài. Người ta cáo yết với Thần Nông, tức là Ông Thần về nông nghiệp, tiếp đó cuốc mấy nhát đất biểu trưng. Ngày xưa, sẽ đích thân Vua đi làm lễ Động thổ, hay còn gọi là Lễ Tịch Điền, dân chúng gọi là lễ Xuống Đồng. Nhà Vua xuống ruộng đi cày với ý nghĩa khuyến khích người dân chăm lo việc cấy cày, phát triển nông nghiệp, cầu mong cho một năm mới mùa màng bội thu. Đối với các làng xã, thì người cao tuổi nhất trong làng được cử ra làm lễ. Sau khi làm lễ động thổ xong, dân mới đi cày cuốc, làm ruộng trở lại, ngày Tết chính thức kết thúc.

Như vậy, chúng ta thấy ngày xưa đón Tết rất dài, từ ngày 23 tháng Chạp đến hết ngày mùng 7, tức là nửa tháng. Nhưng Tết lại chỉ tập trung ba ngày là mùng 1, mùng 2 và mùng 3. Trước đó bảy ngày và sau đó bảy ngày là những công việc chuẩn bị trước và sau Tết để đón một năm mới tốt lành, với rất nhiều phong tục, tập quán và những giá trị văn hóa sâu sắc, mang tính nhân văn đầy ý nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Trích: Kể chuyện Tết - TT Thích Tiến Đạt viện chủ viện Tịnh Luận Chùa Đại Từ Ân chia sẻ tại Lễ Tất niên, Chùa Ngòi - Hà Đông 2018