Kinh Ngũ Bách Danh Quán Thế Âm Bồ tát, không tìm thấy trong Đại
tạng, Tục tạng Kinh. Kinh này chắc chắn do một vị Cao Tăng Việt Nam biên soạn,
nhưng đó là ai, và biên soạn bao giờ thì chưa biết được? Chỉ biết rằng bản Kinh
này do Tổ Sư Bồ tát giới pháp danh Tính Định (1842-1901), khai sơn chùa Xiển
Pháp, thôn An Trạch, nay là phố Cát Linh, thành phố Hà Nội khắc ván lần đầu vào
ngày tốt tháng trọng Hạ, năm Mậu Tuất, niên hiệu Thành Thái (1898). Đến nay đã
hơn 125 năm, biết bao nhiêu thế hệ Tăng Ni, Phật tử lễ bái thụ trì thảy đều
linh nghiệm. Điều đáng tự hào cho Phật giáo Việt Nam chúng ta là Kinh này do
Chư Tổ Việt Nam biên soạn cho người Việt Nam lễ bái, mà không dựa vào Kinh sám
của Trung Quốc.
Tuy nhan đề là Kinh, nhưng thực chất là Sám nghi, dùng để lễ
bái cầu nguyện cho Phật pháp xương minh, quốc thái dân an, bệnh dịch tiêu trừ,
tiêu tai giải nạn… Nó thay thế cho các nghi nhương tinh giải hạn… không phù hợp
với chính pháp. Khi soạn bộ sách này, Chư Tổ đã y cứ vào Kinh Thiên Thủ Thiên
Nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni; Kinh
Quán Thế Âm Bồ tát Bí Mật Tạng Như Ý Luân Đà La Ni Thần Chú; Kinh Thiên Quang
Nhãn Quán Tự Tại Bồ tát Bí Mật Pháp; Kinh Bất Không Quyên Sách Chú; Kinh Nhân
Vương Hộ Quốc Ba La Mật; Kinh Quán Thế Âm Bồ tát Như Ý Ma Ni Đà La Ni; Kinh
Pháp Hoa Phẩm Phổ Môn… mà soạn ra. Do vậy, nội dung không trái với lời Phật dạy,
mỗi danh hiệu đều nói lên công hạnh tu hành của Bồ tát, uy lực của chú Đại Bi,
và ước nguyện của hành giả. Do vậy, người lễ bái cần phải chí thành đỉnh lễ,
nương vào công hạnh của Bồ tát qua từng danh hiệu mà quán chiếu, để sám hối
tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng thiện căn, tiêu tai giải nạn, thành tựu quả
phúc. Mặt khác nương vào ý nghĩa của mỗi danh hiệu như một phương pháp tu tập
cho chính mình, thì cảm ứng đạo giao, có cầu tất ứng.
Là con cháu đời thứ 5 của Sơn môn Xiển Pháp, nghĩ đến công đức
cao dày của Tổ Sư, lập danh, lập đức, lập ngôn, dựng chùa, khắc ván in kinh, diễn
Nôm kinh điển, truyền pháp độ nhân, không biết lấy gì báo đáp, bèn đem Kinh này
dịch ra tiếng Việt để tiện cho việc “dễ hiểu, dễ hành, dễ tu, dễ chứng” như chí
nguyện của Tổ Sư đã nói xưa kia.
Ngày mùng 01 tháng 6 năm Nhâm Dần.
Viết tại Viện Tịnh Luật, chùa Đại Từ Ân
Sa môn Thích Tiến Đạt cẩn bạch!
