SỰ BÁO ÂN CHÂN CHÍNH

PHẦN 1

Mỗi khi ta làm được một chút đỉnh gì, ta luôn tưởng ta là người đại ân nhân, có công đức lớn đời đời, muốn bắt đời phải khen ngợi báo phục, lại tưởng ta là người không có tội lỗi, nên thấy người ngày ngày sám hối niệm Phật bèn chế rằng: “tội lỗi gì mà làm thế, ngày nào cũng hối? “ Nhờ có nhời Phật dạy thì mới biết, chúng ta còn lắm tội nợ, nếu chưa tu thành Phật thì không thể nào báo đền được hết ân nghĩa đối với thế gian. Nếu chưa báo đền được ân nghĩa thế gian, dẫu có công đức đến đâu, cũng vẫn như người nghèo còn mắc nợ, chứ chưa đáng tự tôn tự đại. Thế thời:

Trong kinh Tâm địa quán có chép rằng: “Chúng sinh phải chịu bốn cái ân lớn:

1) Ân cha mẹ, ở khắp thập phương, đời hiện lại, đời quá khứ và đời vị lai.

2) Ân nghĩa đối với chúng sinh ở khắp mười phương, về đời hiện tại, các đời quá khứ và các đời vị lai.

3.) Ân nghĩa đối với Tổ quốc ở cõi giới, cõi người về đời hiện tại, các đời quá khứ và vị lai.

4.) Ân nghĩa đối với Tam bảo, là Phật, Pháp, Tăng. ở khắp mười phương, đời hiện tại quá khứ và vị lai.

PHẦN 2

1. Vì sao mà có ân nghĩa cha mẹ ?

Là ta mê mất “chân tâm thường trụ sáng suốt bao la khắp mọi nơi”, mà chỉ nhận được cái “sắc thân chướng ngại vô thường”, phải theo thời gian luân chuyển làm người ở cõi nhân gian. Khi ở cõi giới Sắc giới sinh xuống cõi nhân gian, thì sinh bằng biến hóa, thân người toàn bằng sắc chất quang minh, có thần thông biến hóa.Sau vì hưởng thụ màu đất ngọt béo, rồi lại biến thành thân xác thịt nặng nề thô bỉ. Sau lại vì tham lam ghen ghét, màu đất biến hóa hết đi, mọc thành thứ lúa thơm; loài người vì ăn thứ lúa ấy, nên có nhiều bã rả ô uế, mà biến sinh ra đường đại tiện và tiểu tiện. Vì yêu tâm, yêu sắc nhau, mà biến thành kẻ nam người nữ, sinh ra dâm dục, có vợ, có chồng, có “nghiệp báo”. Có cha mẹ vì cái nghiệp công cộng như thế, mà cứ đời đời kiếp kiếp thác sinh làm cha mẹ lẫn nhau, như bánh xe quay, không biết có thời hạn nào.

Mỗi khi ta thác thai vào nhà nào, thì ta làm phiền lụy cho cha mẹ nhiều lắm. Khi còn ở trong bụng thì phải nặng nề khó chịu. Khi sinh ra, thì đau đớn khổ sở. Khi thơ ngây, thì bị bú mớm bồng bế, bìu díu dỗ dành , phải chịu dơ bẩn vì con. Khi biết đi đứng ăn nói, thì lo liệu cơm áo, giấy bút, tìm thầy dạy bảo đào tạo cho thành người có đức tuệ tài năng. Khi ốm đau thì lo sợ quên ăn mất ngủ, tìm thầy chạy thuốc, xông pha mạo hiểm, chẳng quản nắng mưa, ăn cay nuốt đắng thay con. Khi nhớ lại lo bề lứa đôi, cho có công nghiệp, có gia thất. Khi con làm sự xấu, thì cha mẹ bị nhục lây. Khi làm sự bạo ngược, thì cha mẹ bị tội vạ lây. Khi con làm việc đạo nghĩa phải thiệt đến tính mạng tài sản, thì cha mẹ cũng phải phiền não vì con. Lúc nào cha mẹ cũng lo liệu từ con, muốn cho con được sung sướng vẻ vang hơn mọi người trong thế gian, công đức ấy kể sao cho xiết, thực là trời cao khôn bỉ, bể thẳm khôn lường!

Mà cái thân vô thường của ta đây cứ sinh diệt tuần hoàn từ đời vô thủy đến nay, thay đổi biết bao nhiêu là thân, biết bao nhiêu là cha mẹ; chỉ có thể lấy hạt bụi làm thí dụ. Kiếp này hợp nhân duyên thì thác sinh vào làm con nhà này, kiếp khác hợp duyên với cha mẹ khác thì lại thác sinh vào nhà khác, thành ra có cha mẹ ở khắp mười phương ba đời. Hiện nay có nhiều kẻ ngu si bất hiếu cãi lại rằng “Ai bảo cha mẹ giao kết với nhau, hoặc là cầu tự nó, để cho nó có thân phải chịu khổ, nó đã không thù thì chớ, sao lại còn bảo nó phải chịu ân?”

Thương hại thay! Những kẻ ngu si điên cuồng đã tưởng lầm, mà nói những cầu bất hiếu vô lý ấy. Họ có biết đâu rằng, họ đã tạo cái “nghiệp thức” phải thác thai, thì dù chẳng thác sinh vào nhà nọ, tất phải thác sinh vào nhà kia, chứ không thể chơ vơ giữa giời mãi được, chỉ tùy nhân duyên, thiện ác, ân oán, mà được vào nơi sung sướng hay khổ sở, chớ có ai vô cớ thưởng phạt họ đâu. Ví như người giống ngô thì được ngô, giống đậu thì lấy quả đậu. Chứ cha mẹ độc ác, ngu si đến đâu, cũng biết thương con, cũng muốn làm cho con sung sướng hơn người: vạn nhất vì tiền oan nghiệp chướng mới phải một người hủy hoại, vùi dập con, hay là bỏ bơ vơ mà thôi.

2) Vì sao mà có ân nghĩa chúng sinh ?

Nguyên là vì chúng sinh còn mang cái « thân phải hưởng thụ” này ra đời, thì phải thụ dụng mọi thứ, mới cho là sung sướng hoàn toàn. Cho nên phải liên can với tất cả chúng sinh ở khắp mười phương ba đời. Như là chư Thiên, Long, Quỷ, Súc, vẫn có liên can ẩn mật với tà. Vì ta ngu si chướng ngại, cho nên không biết. Như hiện tiền đây phải nhờ người làm thợ mới có nhà cửa, quần áo, đồ dùng. Phải nhờ người cấy mới có thóc lúa, rau quả, bông gai. Nếu còn thụ dụng thịt thà, cao nhung, lông da, tơ lụa, máu sữa, sừng ngà, xương khảm của súc vật, thì còn phải chịu nợ liên miên với chúng. Nếu còn dùng đến trâu cầy ngựa cưỡi, gà gáy, chó sủa, thì cũng còn liên can mắc nợ chúng.

Hoặc có người hỏi rằng: Giả sử có người đời nào cũng ở các cõi giới thượng giới, hay là đời nào cũng có tài năng và sẵn tiền của, thụ dụng đến đâu báo đáp ngay đến đây, thì sao còn mắc ân?

Đáp rằng: Không thể được! Là vì đã kết cục cái tính tri giác vảo cái thân sinh diệt vô thường thì cứ phải tùy theo thời gian mà luân chuyền, chứ không có theo nguyện lực mà tự tại được. Và ta lại tưởng tượng như có một người có tài năng lại có nhiều tiền bạc mà bị trôi dạt vào một cái bãi hoang giữa bể, không có một ai ở đây, thì người tài năng sẵn tiền kia, có vui sống được hoàn hảo chuông? Trừ ra ông ấy đã tu luyện được phép “tự tại” cho nên nếu còn hưởng thụ thì còn liên can mắc mứu với nhau, chứ chưa thanh khoản được.

3) Vì sao mà có ân nghĩa quốc Vương ?

Nguyên là vì bọn chúng sinh còn ngu si, tham lam, tàn hại lẫn nhau, tranh giành, cấu xé nhau, lừa lọc bẫy cạm nhau. Vì cái nghiệp công cộng ấy có bác hành chính đề bảo hộ công lý, sử đoản sự tranh giành, thì mới sống được an toàn.

PHẦN 3

4) Vì sao mà có ân nghĩa Tam bảo?

Nguyên là vì chúng sinh còn mắc bệnh “si mê” muốn giác ngộ, bị đau khổ muốn cầu vui. Vì cái nghiệp công cộng ấy, cho nên phải có Tam Bảo đề cứu khổ độ mê cho, như là có bệnh tất nhiên phải có thuốc đối trị.

Phật, Pháp, Tăng, từ bi hỷ xả hết thảy mọi cảnh hưởng thụ, mà thường thường phát “trí tịnh quang” đi khắp mười phương đề chiếu phá ám chướng, si mê, giúp đỡ chúng sinh, hoặc dùng thần biến mà ứng hiện sắc thân vào nơi cực khổ ô trọc, để cứu khổ độ mê cho chúng sinh. Công đức từ bi của Tam bảo đối với chúng sinh thì không thể nào nghĩ bàn được. Tán thán ức kiếp cũng không hết được.

Cha mẹ thương con còn có hạn, nếu con thác sinh đi làm người làm vật ở nơi khác, thì cha mẹ cũng không còn nhận biết được mà thương, hay là hiện tiền vì con bất hiếu, bất nghĩa cũng giảm lòng thương, có khi khước từ con, hay là con bị nạn ở chỗ khổ sở nguy hiểm, cha mẹ cũng không đến được. Còn như Phật, Pháp, Tăng thì không hạn thì giờ nào, xứ sở nào, và không phân biệt kẻ ân người oán, bao giờ cũng thương xót chúng sinh, như mẹ thương con, lúc nào cũng dùng “trí tịnh quang" lẳng lặng lân niệm đến chúng sinh, lúc nào cũng nguyện cứu khổ độ mê cho chúng sinh. Khắp mười phương, chỉ tùy chúng sinh muốn chóng khỏi thì tin theo Phật, Pháp, Tăng, nếu chưa chịu tin theo Phật, Pháp, Tăng, thì phải chịu khổ lâu đời. Cái công thần diệu của Tam bảo với thế gian, chỉ có người có trí tuệ thanh tịnh mới biết được.

Kinh A Hàm: chép rằng: “Cõi thế giới, vì có số nghiệp lực nhân duyên của mọi chúng sinh, và vì nguyện lực, từ duyên không thể nghĩ bản của chư Phật chư Bồ Tát mà thành lập”.

Cái thân thấy biết chướng ngại của ta đây, tựa như con vi trùng bám vào quả bưởi còn biết làm sao được. Ta thử suy một gia đình con cháu hư dại, mà được cha mẹ có tài đức giáo hóa duy trì, thì cảnh gia đình nhà ấy, biến đổi khác với gia đình toàn gia phung phá ngu dốt, rồi sau đến một nước, đến cả thế giới cũng vậy.

Hoặc giả có người nói rằng người nào tin theo Phật Pháp, Tăng, thì người ấy phải chịu ân Tam bảo, có người không theo thì việc gì mà mắc ân?

Đáp rằng: Chúng sinh và Phật, Pháp, Tăng, thể tính cũng sáng thiêng thông suốt bao là hàm dung lẫn nhau, không khác nhau, không lìa cách nhau. Cho nên cái nghĩa thân thiết âu yếm nhau như mẹ con vậỵ, con thơ dại mắc bệnh kêu đau, là có ý muốn giải thoát, thì tất nhiên mẹ phải chữa thuốc cho, nhưng con trẻ dại dột ngu si, thấy me cho uống thuốc cay đắng lại kêu khóc chửi giả, rồi chay trốn, thế mà mẹ vẫn cứ đuổi bắt cho uống thuốc, chữa cho khỏi bệnh, Phật, Pháp. Tăng, cũng vậy, không chấp trách, oán giận chúng sinh nhạo báng, vẫn cứ đuổi theo lên giời xuống ngục, bắt vào “Vô dư Niết-bàn” tức là chữa cho khỏi bệnh “si mê”, hoán lại cảnh tỉnh ngô, yên vui, tự tại mới nghe. Ấy là nói cho chúng sinh tự phải biết là báo đền thì được thanh khiết mãn phận, chứ Tam-bảo không có đòi ơn của chúng sinh.

MUỐN BÁO ÂN CHÂN CHÍNH THÌ LÀM THẾ NÀO?

Tức là phải tin theo Phật, Pháp, Tăng, mà tự lập, thay đổi sự mà làm, làm theo sự chân-chính, thì mới là báo đền được ân-nghĩa hoàn tòa chân-chính.

PHẦN 4

1) Sự báo ân cha mẹ sai lầm

Là vì không biết rằng hết thảy chúng sinh ở các loài đều là cha mẹ tiền kiếp của mình; mà điên-đảo mê hoặc, đam mê sư dâm-dục, mắc bệnh tình để mất dòng dõi tổ-tiên, sát hại chúng-sinh đề ăn uống cúng đãi, làm sự trái đạo lấy lợi cung dưỡng, nghe bói nghe dí, cải mả lên đồng, thiêu vàng hóa mã, cầu tài quỷ thần, dẫn dụ cho cha mẹ theo giáo pháp vô lý, ngăn trở cha mẹ tín ngưỡng Tam-bảo. Thể là sự bảo ân cha mẹ mê lầm.

Sự báo ân cha mẹ chân chính là phải tin nhận rằng mình và chúng - sinh đều có “chân - tâm thường-trụ sáng-suốt thiêng-liêng bao la hết thẩy”, chỉ vì điên - đảo mê-hoặc ham mê hưởng thụ dục lạc cho nên phải luân-hồi làm cha làm mẹ lẫn nhau thì lý - ưng phải cấm tuyệt sát sinh và dâm dục nếu chưa làm đúng được thì phải giới tà dâm, phải phát nguyện xả ly dần cho đến tuyệt không tưởng đến nữa. Và phải cứu chữa buông tha chúng- sinh, cung nuôi cha mẹ bằng những lợi dưỡng hợp đạo. Phải khuyến- hóa cha me và hết thảy mọi người biết quy- Tam-bảo, phải niệm Phật, tụng kinh, cúng dàng Tam-bảo. Khi cha mẹ ốm đau thi cơm cháo thuốc thang, cầu nguyện Tam-bảo gia-bị cho tiêu-giảm nghiệp-chướng. Khi trăm tuổi, khi tuần tiết giỗ tết cũng vậy, lúc nào cũng niệm Tam- bảo và phóng-sinh, tu phúc, tu tuệ, cầu siêu phả độ cho hết thảy cha mẹ khắp mười phương ba đời, kẻ còn, người khuất đều được giải-thoát trần - hoàn, làm con như thế mới tròn đạo con, mới là bảo ơn cha mẹ chân-chính.

2) Sự báo ân chúng-sinh sai lầm

Là giết chúng-sinh nọ, cứu chúng-sinh kia, giết bọn người, cứu bọn mình, tự xưng là đại hùng, đại ân-nhân, đại cứu - thế, trăm khôn nghìn khéo, Lừa chúng-sinh ngu-si hèn yếu, để lấy của đem bố - thí, thết đãi kẻ khác, để lấy lợi riêng mình. Đem những thuyết vô lý ra giáo - hóa chúng sinh, khiến cho chúng-sinh lầm-lạc mất hết tư cách tự - tại giải-thoát.

Nếu muốn báo - ân chúng-sinh chân-chính thì phải xả thân mình, để cứu-độ chư chúng-sinh; phải hy sinh hết cả những cảnh “hưởng-thụ vui sướng, khoái lạc" của mình đi, mà học đạo, tu đạo, đem chính đạo mà giác-ngộ cho hết thảy chúng-sinh khắp mười phương ba đời, đều được tỉnh-ngộ, giải-thoát, vĩnh viễn an-lạc tức là thành Phật cả, không phải “hưởng thụ” những cảnh giả dối vô-thường nữa, thế mới là báo ân chúng-sinh chân-chính.

3) Sự báo-ân quốc-chính sai lầm

Là đem những tà thuyết khiêu dâm, loạn tình, bi bác nhân - quả khiến cho người không biết tự tạo cái nguyên-nhân hưng - thịnh, tránh những nhân duyên suy bại

Muốn báo - quốc - chính chân - chính thì phải đem chính-đạo ra giáo hóa dân chúng giúp nước; khiến cho nhân dân biết lý -nhân quả, biết tự tạo lấy nguyên-nhân hưng- thịnh, biết tránh những nguyên nhân suy-bại. Từ lúc bình-nhật phải tự lập tự cường ở mình chứ không nên lười biếng ỷ lại phải làm cho cả thế-giới “Tham, sân, si” biến thành thế. giới “Cực-lạc chính-giác”, không còn ai ngu-si, gian tà, tàn bạo nữa, tôi không còn ai phải trị-hóa ai nữa thể nói là một nước vĩnh-viễn an-lạc.

PHẦN 5

4) Sự báo ân Tam bảo sai lầm

Tuy cũng có tin Tam-bảo, nhưng không biết như nào là Phật, gặp những thiên-ma, tà đạo trá hiện ra làm Phật, cũng quy-y tín ngưỡng, cũng sùng tôn là Phật ra đời. Không biết thế nào là pháp chính, cũng tự tu và truyền - bá rồi lạ nhận là chính-pháp là giới luật của Phật. Đến chính pháp của Phật thì lại phi bảng, không biết thế nào là tăng. Gặp quân ma, đảng quỷ, khôn khéo biện bác, trả thuật thần biến, tự do rượu thịt, thì tán thán thân cận. Đối với các bậc “trì giới, tịnh tăng” thì hủy mạ, cho là độc-thiện, cấp- tướng, lập- dị, hiếu-danh; rồi bới lông tìm vết, cầu toàn trách bị.

Muốn báo ân Tam - bảo chân - chính thì phải nghe học cho biết thế nào là “Danh tự Phật”, thế nào là “thân tướng Phật”, thế nào là “đức tính diệu dụng Phật”, mà niệm Phật, phát nguyện tu cho thành Phật, chuyển hóa cho người cũng biết niệm Phật, tu thành Phật. Phải nghe học cho biết thế nào là chính pháp , thế nào là tà-pháp, để mà tự tu và truyền bá chính-pháp cho người, phá trừ tà-pháp cho người. Phải học cho biết thế nào là Tăng , thế nào là quân ma, đảng qủy, để tự niệm làm Tăng, chuyển hóa giúp đỡ người làm Tăng; khước trừ và lánh xa những kẻ gian tà trú thuật. Đừng có coi Phật là ông thần tài ăn lễ phù hộ, phải coi Phật như ông thầy thuốc; đừng coi pháp Phật như của báu mua giữa chợ rẻ khi mua, đắt thì thôi. Phải coi pháp-Phật như thuốc trường sinh bất tử phải xả thân mà cầu pháp. Đừng coi Tăng như người ăn xin, như người làm thuê, mà kiêu ngạo cậy tiền của đề sai khiến, phải tưởng như minh sư hiền hữu rất khó gặp ở đời. Phải phát tâm nguyện cho hết hầu chúng-sinh đều thành Phật-Pháp-Tăng thường trụ Tam Bảo, tức là thân giả dối vô-thường của chúng-sinh và những thân chư Phật cảm ứng sai khác kia, đều tức là Thanh-Tịnh Diệu Pháp-Thân, Vô-Lượng Thọ cả, hết thẩy pháp phiền não và Niết-bàn tiền tức là Bồ-đề chính giác cả. Hết thẩy những phân cách chướng-ngại, đều tức là tính tướng dung hợp vô-lượng quang-minh tối- thượng Tăng già. Thế mới là báo ân Tam bảo chân-chính.

Hoặc có người hỏi rằng: kể cái lý nếu đã nhận được cái thân sáng suốt không chướng-ngại, thì dù gặp cảnh gì cũng tự tại được. Nhưng hiện nay, còn phải mang cái thân thụ dụng này, mà tuyệt không “hưởng thụ” và cấm tuyệt dâm, sát thì người hiểu tử, trung thần, nghĩa dân, lương phu, hiền phụ, chưa xuất-gia được, thì làm thế nào cứ giữ bổn phận, mà tu Phật pháp đề lấy quả Tịnh-độ xuất thế, cho trọn tình vẹn lý được?

Đáp rằng: không hưởng thụ, nghĩa là không khởi ra cái tính hưởng thụ, nếu mình không tạo ra cái nghiệp tính hưởng thụ, thì sẽ biến thành cái nghiệp-quả thanh-tịnh bình-đẳng không khổ nữa. Như là chúng ta ngày nay tu vẫn phải ăn đề sống mà tu-hành, nhưng trong khi ăn, cứ tập phản-chiếu cái tính hương vị của mình vào trong, mà không chú ý vào những hương vị kia nữa cho quen đi, tức là lúc nào ta cũng niệm Phật thì không có phân biệt mặn nhạt, ngon hay không ngon, thì trong thì trong khi ta đương phương tiện thụ dụng thì “cảnh vị” kia đối với ta cũng vô vị như người nhai sáp vậy. Thế thì cảnh địa ngục biến như cảnh Thiên Quốc chính là Tịnh-độ hiện-tiền. Vậy thì người hiến-tử, trung thần, nghĩa-dân, lương-phu, hiền-phụ, vẫn có thể làm được tròn bổn-phận, ở tại gia mà tu chính-pháp lấy quả Tịnh-độ xuất thế được, không hề chướng-ngại. Miễn là trong khi phương-tiện làm chức vụ đừng khởi ra cái tính tham hưởng danh-dự khoái-lạc, hay là khởi ra cái tính sân-nộ bảo-thủ, phải tưởng là vì cứu-hộ, vì bảo-ân chúng-sinh, chứ không vị mình là được.

Tôi xin kể một chuyện của tiền-thân đức Thích-Ca phương-tiện tu đại-bi, ở trong kinh Báo-ân như sau: Đời xưa kia có Phạt ra đời hiệu là Vô Úy Vương Phật, có ông Bà-la-môn thụ trì ngũ-giới, tức là Cư sĩ, ông có việc phải đi ngoại-quốc, giữa đường có nhiều nạn giặc cướp. Có một bọn cả thảy là 500 người kết đôi cùng đi, đến một chỗ phải ngủ lại. Chỗ ấy có một bọn giặc 500 người vẫn trú ở đây để cướp, bóc hành khách. Bây giờ chủ giặc mật sai một người đến rình mò đề thi hành thủ-đoạn, bất ngờ, trong bọn giặc lại có một người trước có quen với ông Cư-sĩ, mới đến bảo ngầm cho ông biết mà thoát thân lấy một mình, không được bảo cho hành-khách biết. Bây giờ ông Cư-sĩ rất khó nghĩ, bảo cho hành-khách biết thì sợ bạn giết tên đi rình mò kia, thì cả bọn cùng đạo ác-đạo, phải chịu tội khổ. Nếu lặng yên đi thì bọn giặc sẽ đến giết bạn, bọn giặc sẽ bị tội khổ; nghĩ thế rồi đặt một phương-tiện cốt lợi ích chúng-sinh, không vị riêng mình, âu là mình chịu khổ báo thay cả hai bên, liền cầm dao giết người dình dò kia, thế là bọn bộ-hành đều được an-toàn.

Lúc bấy giờ, cả bọn ngồi thấy thế, liền hỏi rằng: “ Ông là người tu thiện sao lại làm việc đại ác như thế?

Ông Cư-sĩ quỳ gối chắp làm hổ thẹn mà nói rằng: tôi nay bất đắc dĩ vì lợi ích chúng - sinh và các bạn, mà phải làm, để bạn yên ổn, mà tôi xin chịu cái tội địa-ngục.

Bây giờ cả bọn hành-khách đều cảm-phục, vừa sợ vừa mừng, mà bảo nhau bằng : Thiên-hạ chí trọng không gì bằng thân mạng, hết thảy chúng-sinh đi đến lúc lâm-nguy, cũng phải bỏ cả vàng, bạc, châu-báu, quốc-thành, vợ con để thoát thuận mạng. Nay lũ chúng ta được nhở cái ơn tái sinh của ông Cư-sĩ, đã bị chúng-sinh, chẳng từ ác-báo lao-khổ mà vì chúng ta, lũ chúng ta nay nên báo-âm thâm-trọng ấy. Rồi hết thảy ai nấy đều phát tâm Bồ-đề, tức là phát nguyện độ chúng-sinh, nguyện tu thành Phật.

Ngay lúc bấy giờ, bọn giặc lại đến hỏi ông Cư-sĩ rằng: Thấy nói ông là người tu thiện, sao lại làm việc đại-ác như thế?

Ông Cư-sĩ đáp rằng : Tôi bất đắc dĩ, vì muốn bảo-hộ thân-mạng cho lũ các ông, mà phải làm như thế.

Giặc lại nói rằng: Ông làm việc giết người ấy, thì có ích gì cho chúng tôi?

Ông Cư-sĩ bảo rằng: Tôi biệt là các ông ở đây, muốn để cho các ông hồi tâm hướng thiện, đã không đi báo Quốc- Vương và không đánh thức 500 bạn hành khách chúng tôi biết, vì thế mới được an-toàn thân mạng.

Bọn giặc nghe nói thế rồi, bèn sợ hãi cảm-phục, và chắp tay tán thán rằng: Ngài thật là bậc Đại-sĩ, tu hạnh đại-bi. Vậy nay ngài muốn bảo chúng tôi làm gì ?

Ông Cư-sĩ nói rằng, tôi chỉ muốn cho các ông phát tâm Bồ-đề ngay đi.

Bây giờ bọn giặc vì báo ân thâm trọng ấy, đều phát tâm bồ-đề.

Phật bảo ngài A Nam rằng: “Bồ- tát cần cầu tinh-tiến trang nghiêm đạo Bồ đề, muốn báo ân Phật, thường nên thương nhớ hết thầy chủng-sinh như “con một”. Này ông nên biết người Cư-sĩ họ Bà-la-môn kia, phải là ai đâu, chính là tiền thân ta đây. Vì một nhân-duyên ấy mà vượt nhanh được 9 kiếp chóng thành đạo Vô-thượng chính đẳng chính -giác.

Ấy phương-tiện đại-bi vì chúng-sinh không vì mình thì khi lâm sự kinh-quyền tùy-nghi không chướng-ngại. Nói rằng chịu tội địa-ngục, nhưng ngại không khởi ra cái nghiệp tính hưởng thụ, có khi nào lại biến thành nghiệp-quả phải thụ - khổ, hay là có trá hiện ra cái tướng khổ. Nhưng trong không có tính hưởng-thụ, thì đủ cảnh tượng có đổi cũng vô vị như người nhai sáp mà thôi, chứ có tính phân-biệt đâu mà có khổ, có sướng, địa-ngục có thể biến thành lạc-quốc.

SỰ BÁO ÂN CHÂN CHÍNH - PHẦN KẾT

Nếu muốn báo ân cho trọn vẹn, thì phải tu đến thành Phật mới viên mãn công đức thần diệu, mới độ thoát được chúng-sinh vô tận; muốn tu, tất cả phải nghe pháp và học pháp mới biết đường tu sai lầm, khỏi sa đọa vào đường ma lối quỷ. Nếu mình ít thời gian giờ học, hay là nghiệp chướng nặng nề, thì nên cung cấp giúp đỡ cho nhiều người học hộ mình, đến khi có cần đến pháp gì thì thỉnh cầu. Ví như muốn tìm một chuyện trong tập sách 100 quyển, lý ưng phải mất 100 ngày mới thấy, nếu nhờ được người học rồi nói cho nghe, hay chỉ bảo cho biết ở trang thứ mấy, thì chỉ một phút biết ngay được. Cho nên Phật phó chúc cho bên “ hộ pháp” và bên “trì pháp”, cả hai bên cùng tựa nhau, mà cùng được hưởng pháp-lợi cả. Đừng nên ghen ghét người học hơn mình, dù người học kia chưa trừ được tính kiêu mạn, cũng có lợi cho quần chúng.

Vậy chúng ta còn mang cái sắc thân giả dối vô thường chướng ngại, là còn mắc ân nghĩa to lắm, chưa có gì là đáng tự tôn tự đại. Chúng ta có báo đền được trọn vẹn những ân nghĩa trọng đại của thế-gian, thì chúng ta mới thanh khoản tự lại được.

Trích Tạp chí Đuốc Tuệ - Tác giả Tâm Ấn