SƯ KHANG GIẢNG VỀ TIẾN TRÌNH NGŨ UẨN TRONG CON NGƯỜI CHÚNG TA

Thì thường thường cuộc sống chúng ta có tiến trình của luân hồi, và ngay tiến trình của luân hồi chúng ta khéo nhận một chút xíu thì giải thoát cũng nằm ngay tiến trình luân hồi đó. Tôi nói tiến trình luân hồi trước, bây giờ nói về con mắt, còn lỗ tai thì sau. 1 căn thôi rồi mấy ông mấy bà tự suy ra.

Thí dụ Bây giờ có cái đồng hồ trước mắt tôi, tất nhiên phải có con mắt tiếp xúc đồng hồ.

Giai đoạn đầu có tròng đen của tôi tiếp xúc đồng hồ thì sự thật là chúng ta chưa có cái biết. Do duyên con mắt, do duyên sắc thì thật sự con mắt, sắc trần nếu đứng phương diện xao động thì chúng ta thấy nó có tròng đen tròn vo hà, nó như cái hột nhãn nó tròn vo và cái đồng hồ ở ngoài có hình tướng, nó có từ số 1 đến số 12.

Nhưng mà thực sự cái này là cái xao động do nghiệp lực người chụp mũ nó như vậy, sự thực không có cái đồng hồ, không có cái con mắt này mà cái đứng lặng nó là hào quang hội tụ lại. Thì do hội tụ này mà cái tác ý nghiệp lực thức thứ 7 đó, chúng ta kêu là tác ý tức là cố ý muốn cho có hình có tướng, cố ý muốn cho có sắc tài danh lợi, cố ý muốn hưởng ngũ dục nó mới nương vào cái hào quang hội tụ là cái đứng lặng nó mới chụp mũ, nó sửa thành đồng hồ và tròng đen theo nghiệp người ta. Còn nếu là con kiến nó sẽ nhìn cái đồng hồ khác, nó nhìn tròng đen khác theo cái nghiệp con kiến.

Thì giai đoạn này chưa có cái biết, tức thức thứ 7 nó vọng hóa quá tới đây nó mất cái biết, thì cái này kêu là nhãn thức, tức là có 1 cái nhìn xao động. Cái nhìn của lặng lẽ thì nó là đứng lặng, cái nhìn của lặng lẽ thì nó chỉ là hào quang hội tụ thôi.

Rồi sau đó cái tác ý tức là cái nghiệp lực mà tôi nói nghiệp người đó nó muốn hiện ra có cái hình cái tướng để mà nó hưởng cái ngũ dục này, nó vẽ ra cái chuồng lồng để rồi nó chun vô, rồi nó la trời đó là của chúng ta đấy. Thì do giai đoạn thứ 2 này là xúc.

Xúc là do duyên con mắt, do duyên cái đồng hồ phát hiện nhãn thức là trạng thái chưa có cái biết. Bây giờ nó muốn có cái biết thành ra tác ý mạnh mẽ mới có sự tiếp xúc con mắt tròng đen và cái đồng hồ mới bắt đầu tiếp xúc có thức thì 3 cái này đắm nhiễm nhau thì cảm thọ mới phát hiện, thấy cái đồng hồ hoặc là tôi vui hoặc tôi không vui (không vui là buồn là khổ thọ đấy, còn vui tức là lạc thọ)

Nhưng mà ai hỏi tại sao anh vui, tại sao anh buồn thì không trả lời được. Thì đó là cái thứ 2, dây thần kinh thị giác của tôi nó mới thấy được cái đồng hồ trên tròng đen. Còn con mắt nó thấy đồng hồ bên ngoài, mấy ông mấy bà không tin nhìn đồng hồ thấy nó nằm trên tròng đen, tròng đen giống như cái gương soi mặt, thì chúng ta thấy đồng hồ nó nằm trên tròng đen của tôi.

Thì giai đoạn thứ 2 dây thần kinh thị giác mới nhìn thấy, chúng ta thấy trên tròng đen có những dây thần kinh li ti mới đưa lên óc thì trong khoa học kêu là thần kinh thị giác mà trong Duy thức kêu là tịnh sắc căn, tịnh sắc căn là của Duy thức, khoa học kêu là thần kinh thị giác. Thì cái dây thần kinh thị giác tiếp xúc đồng hồ trên tròng đen chứ không phải đồng hồ bên ngoài.

Chúng ta nhớ đồng hồ trên tròng đen nó vi tế hơn đồng hồ bên ngoài, nó cũng là cái đồng hồ thuộc vật lý nhưng mà vật lý vi tế hơn. Thì bây giờ dây thần kinh mới rung động thì cảm giác mới mượn dây thần kinh rung động tạo cảm giác lạc thọ là vui hoặc cảm giác khổ thọ là không vui tức là buồn đó. Đó thì tới giai đoạn thứ 2 thực sự nền tảng đứng lặng của nó là 1 vùng hào quang chập chờn.

Chập chờn là sao? Chập chờn là nó dường như có đồng hồ, dường như không, nhưng mà cái đồng hồ này nó chỉ là hình nha, cái hình xuyên suốt, còn đồng hồ bên ngoài là chướng ngại, 2 cái nó khác nhau, để ý chỗ đó. Thì chập chờn như vậy do đó cái cảm giác mới chụp mũ thành ra lạc thọ hay khổ thọ.

Rồi bắt đầu nó mới đưa lên óc. Bây giờ cái mạtna này, cái ý chí nãy tôi nói tác ý đấy, tác ý nó mới thấy được cảm giác này, thì nó mới lấy trong alaya thức tức là linh hồn, trong Duy thức kêu là thần thức hay là alaya thức tức là những kinh nghiệm, kiến thức, ký ức mình học hỏi trong đó, thì tác ý mới moi trong đó đưa cho tư tưởng, tư tưởng mới phát hiện. Bây giờ tư tưởng mới mượn cái óc, cái óc là dây thần kinh trung khu đấy, mới trả lời tại sao vui, tại sao buồn, thì cái này kêu là tư tưởng hay ý thức.

Thành ra chúng ta qua giai đoạn do 6 căn tiếp xúc 6 trần phát hiện 6 thức, giai đoạn thứ 1 chưa có cái biết. Rồi do sự tác ý căn-trần-thức tiếp xúc nhau thì cái này là cái tác ý của thức thứ 7. Rồi do tác ý mới có thọ, thì có thọ lạc thọ khổ. Bây giờ giải thích thọ đó là ái.

Thì tất nhiên tư tưởng mới giải thích. Giải thích do mình thấy đồng hồ, từ xưa đồng hồ reo nó giúp cho mình có giờ thức, có giờ tu tập, nó reo rất rõ ràng, những cái giải thích này nó kêu là ái hay là tư tưởng.

Mà cái giải thích nó có là do linh hồn mình đã thấy đồng hồ qua rồi, mình đã có thèm khát đồng hồ này, nó đã chứa trong kho alaya, bây giờ có phật tử gửi tặng mình, mình thấy mình thích. Cái giải thích này chính là ái, nhãn ái.

Nhãn ái đây chỉ là sự nhớ lại, nhớ lại tức là có cái gì cung cấp mới nhớ lại, mà nếu thức thứ 7, tác ý không moi trong alaya cung cấp cho nó thì tư tưởng không phát hiện được. Cái nền tảng của nó là do đứng lặng là hào quang rực rỡ sáng soi hơi mờ.

Thành ra giai đoạn thứ 3 nhãn ái bắt đầu có sự phân biệt, mà do sự phân biệt chúng ta ngược trở lại, chúng ta cảm giác thích cái đồng hồ, chúng ta chiếm cái đồng hồ này nó trở ngược lại bên kia.

Thành ra chúng ta thấy từ bên ngoài đưa vào chúng ta kêu là huân tập (huân là xong ướp, tập là chứa nhóm), mà từ bên trong đưa ra kêu là hiện hành, thì cuộc sống chúng ta cứ huân tập và hiện hành.

Khi chúng ta tiếp xúc cái gì thì bên trong đưa ra để nó giải thích giải thích rồi chúng ta đắm nhiễm, chúng ta mới tạo tác thêm cái nghiệp mới, cái ham muốn mới, cái ham muốn này chứa trong kho kêu là huân tập. 1 cái đi vô, 1 cái đi trở ra, chúng ta cứ tiếp tục như vậy thì cái kho alaya kinh nghiệm, kiến thức nó càng ngày càng dồi dào thêm, càng ngày nó càng khôn ngoan thêm hay là càng ngày càng ngu si thêm.

Nếu chúng ta làm thiện thì chứa chủng tử thiện thì chúng ta ngày càng khôn ngoan, chúng ta càng ngày càng tiến hóa lên cao hơn.

Còn nếu mà tiếp xúc sự vật chúng ta tạo những điều ác thì chủng tử ác đi vào chứa trong kho alaya thì chúng ta ngày càng ngu si hơn, chúng ta càng trở nên thoái hóa, sa đọa hơn.

Thì tất cả cũng do chúng ta thôi, do cuộc sống của chúng ta, do hoàn cảnh bên ngoài, do cái hiểu biết của chúng ta mà tạo nên đau khổ hay hạnh phúc.

Mà nên nhớ hạnh phúc cũng là hạnh phúc đối với đau khổ vì tất cả đều nằm trên hiện tượng giới. Nhưng mà ngay trong đó có cái đứng lặng nằm trong đó mà chúng ta không hay biết, chúng ta đi theo cái vòng lẩn quẩn, ba hồi hạnh phúc sanh về cõi trời dục giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới, ba hồi làm ác xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, atula. Rồi khổ đau quá tiến hóa lên, tiến hóa lên sung sướng quá hưởng hết rồi thì xuống nữa, cứ thế lẩn quẩn trong vô lượng kiếp, chư Phật đau lòng, đau lòng với cái ngu si của chúng ta cho nên mới có bài kinh Sáu Sáu này.

Để giải thích cái đường lối diễn biến của cái huân tập và cái hiện hành của ngũ uẩn, của 6 căn -6 trần -6 thức -6 xúc -6 thọ -6 ái, cuối cùng chúng ta chỉ có cái thọ và cái tưởng, còn 5 thức đầu chưa có cái biết.

Khi tôi tiếp xúc cái đồng hồ chưa có cái biết, cái đồng hồ nằm trên tròng đen của tôi, dây thần kinh tiếp xúc tròng đen bắt đầu mới có lạc thọ, khổ thọ, có vui và có buồn, cái này gọi là cái biết, mà cái biết chưa có phân biệt.

Khi mà dây thần kinh này, cảm xúc lạc thọ mới đưa lên óc, mới có sự phân biệt. Thì cảm thọ này chúng ta kêu chữ Hán đó là kiến, còn cái biết của cái óc là tri.Thành ra cuộc sống của chúng ta còn có 2 cái thôi: tri - kiến tức là thấy và biết. Mà nếu tri-kiến theo cái xao động là tri-kiến của phàm phù của đau khổ. Và ngược lại nếu nhận được cái đứng lặng là tri-kiến của bậc Thánh nhân, tri-kiến của bậc giải thoát.

Thì tất cả cũng vẫn thấy-biết mà thôi. Thấy biết hay là nghe biết, hay là ngửi biết, hay nếm biết, hay thân xúc chạm mà biết. Thì cái thấy là cảm giác, biết là tư tưởng, chỉ còn cảm giác và tư tưởng thôi.

2 ông này là 2 ông chánh của luân hồi sinh tử khổ. Mà cảm giác là ông Bát Giới đấy, còn cái tư tưởng phân biệt được tức là ông Tề Thiên, 2 ông này đóng vai trò chánh trong đi thỉnh kinh. Nghĩa là đi trên vấn đề giải thoát, giải thoát hoặc luân hồi sanh tử khổ hay không là do ông cảm giác và ông tư tưởng tức là Tề Thiên và ông Bát Giới.

Mỗi người chúng ta chính là 5 thầy trò đi thỉnh kinh đó, cái xác thân là con ngựa. Còn cảm giác của chúng ta là cái biết mà chưa phân biết đó chính là anh Bát Giới mê cảm giác mà không phân biệt gì hết. Còn cái phân biệt rõ ràng nhất là anh Tề Thiên, anh này nhướng con mắt lên tròng đen hóa thành vàng là anh biết cái nào giả, cái nào thiệt hết, còn nếu anh không định lại là anh cũng chưa biết, thành ra muốn biết ma quỷ anh phải nhướng cặp mày anh ra lòi tròng vàng ra anh nhìn anh biết cái nào là Phật thiệt, cái nào là Phật giả, cái nào là ma, cái nào là Phật. Khi nào ông định lại, ông phân biệt được là ông Tề Thiên này, là thức thứ 6. Còn cái anh mạtna cứ ôm cái alaya, mạtna tức là Sa Tăng luôn ôm lấy Tam Tạng. Tam Tạng tức là alaya, alaya là chủ của tất cả, thầy của tất cả vì nó là kho chứa tất cả kinh nghiệm, kiến thức, ký ức, tội phước của chúng ta.

Thì tôi nói chỗ đó mấy ông mấy bà coi lại bài này, sắp vậy chứ không phải luôn luôn theo đường lối đó, chúng ta có thể đảo tới đảo lui nghĩa là chúng ta phải linh động sinh động trong cuộc sống. Nhưng mà nên nhớ cái này là cuộc sống của chúng ta, chúng ta học cái bánh vẽ rồi chúng ta nhìn vào cuộc sống tiếp xúc của chúng ta hàng ngày, chúng ta thấy rõ như vậy. Mà nếu thấy rõ chúng ta cải sửa thì chúng ta lọt theo cái thế của xao động. Mà thấy rõ cái diễn biến nó mà đứng lặng hoàn toàn, đừng cải sửa, đừng bép xép, chỉ nhìn nó thôi, đừng phê phán, đừng chỉ trích, đừng cải sửa gì hết. Giống như mấy ông bà đi coi tuồng cải lương vậy đó, mà phải nhớ mình luôn luôn là người coi tuồng chứ đừng là người đóng tuồng, nếu chỗ bi ai, thắm thiết, đau khổ quá mà mình khóc tức là mình không còn là người coi tuồng nữa mà mình đã là người trong tuồng rồi, còn vui quá ngồi ở dưới mình cười theo cũng mất người coi tuồng rồi tuồng trở nên người đóng tuồng, chúng ta ưa như vậy.

Bây giờ mấy ông bà đi coi hát, chỗ nào buồn quá, khổ quá mấy ông bà ngồi khóc, khi nào có ai vỗ vai nói cái tuồng hát nhen mình mới tỉnh lại. Thành ra mình phải luôn luôn là người coi tuồng, tức là luôn luôn phải đứng lặng, phải nhìn mọi sự vật y như mọi sự vật không tham gia vào đó, không được phê phán, không được cải sửa, không được ghét bỏ, không được thích ưa trong đó, mà chỉ nhìn mọi sự vật, thấy mọi sự vật như là mọi sự vật thì Đạo Phật chỉ có thế thôi.

Rất giản dị nhưng mà rất khó khăn, bởi chúng ta quen sống cái phức tạp, chúng ta không chịu sống với cái giản dị. Giản dị tức là không cần 1 pháp môn nào, không cần một ông thầy nào, không cần cải sửa gì hết, chỉ lặng lẽ nhìn mọi sự vật y như là mọi sự vật. Thành ra trong này mới nói là “như thị”, thấy vậy là như vậy thôi, đừng hỏi tại sao, đừng phê phán, đừng chỉ trích, nếu xen vào một cái phê phán, cái cải sửa, cái chỉ trích rồi thì chúng ta tiếp tục qua xao động, tiếp tục luân hồi mãi. Cái đứng lặng hoàn toàn, mà cái đứng lặng này rất là khó. Đó là cái thứ nhất, như vậy là xong bài giảng câu hỏi thứ nhất của tôi rồi đó.