Thực ra thì "cúng dàng" không có nghĩa quá cao sang, hay
"bố thí" cũng không có ý nghĩa quá thấp kém như mọi người thường
nghĩ. đó chỉ là thói quen dùng từ của văn phạm Hán văn mà thôi.
供養
cúng dàng/ dường: thực ra chỉ đơn thuần là cung cấp các loại thực phẩm để nuôi
dưỡng một ai đó. ví dụ như: cúng tiền trai tăng, hay đưa tiền, đồ ăn nuôi cha mẹ
(提供父母生活上所需要的物品、金錢。【例】子女供養父母是天經地義的事),
cung cấp đồ cho cô nhi đều gọi là "cúng dàng". về sau, từ này rút lại
nội hàm, chỉ còn được sử dụng với nghĩa là: dâng cúng thần Phật (用供品祭祀祖先或神佛。【例】以香花、明燈來供養佛祖是常見的民間習俗。)
tức là không còn giữ nguyên nghĩa ban đầu.
布施
bá/ bố thí: buông bỏ của mình, mang hiến cấp cho người khác, nghĩa nguyên thủy
của nó không có nét gì mang ý làm phúc cho kẻ hèn kém cả. vì từ này bắt nguồn từ
truyền thống Ấn độ, nguyên bản là chữ "đàn na" 檀那, chỉ
việc cung cấp đồ ăn mặc cho các tu sĩ ẩn cư mỗi khi lễ tiết. tức là vốn nó cũng
giống như từ "cúng dàng". nghĩa của nó chuyển đổi như ngày nay là khi
truyền thống thủy lục đời Đường trở nên thịnh hành. đàn thủy lục dùng để
"bố thí" đến cả tiên, thánh, trời, người, ma quỷ... nhưng từ thời Đường
về sau do biến cố lịch sử, mà phần nhiều đàn thủy lục dùng với mục đích chẩn tế
cô hồn âm giới. chính vì vậy mà từ bố thí dần mang tính chất làm phúc của kẻ
trên với người dưới, kẻ giàu với người nghèo.
-ST-