Trong kinh điển Tiểu thừa (cụ thể là trong Tăng chi bộ) trong một lần có tang chủ đến nhờ Thích Tôn cầu nguyện cho cha họ sinh thiên, Đức Phật đã phủ nhận việc cầu cúng để được sinh thiên.
“Một ngày nọ
có một thanh niên đến hỏi đức Phật: “Kính bạch Tôn giả, cha con vừa chết. Xin đến
cầu nguyện cho ông, vực hồn ông lên để ông có thể lên thiên đàng. Các thầy đạo
Bà la môn có làm những nghi thức như vậy nhưng Ngài là Phật có nhiều quyền năng
hơn họ. Nếu Ngài chịu làm thì chắc chắn linh hồn cha con sẽ bay thẳng lên thiên
đàng.”Đức Phật trả lời: “Được rồi, con đi đến chợ mua giúp ta hai chậu đất nung
và ít bơ.” Chàng thanh niên mừng rỡ vì đức Phật đã chịu làm bùa phép để cứu
linh hồn của cha mình. Anh lật đật xuống phố mua những vật được yêu cầu. Rồi đức
Phật chỉ dẫn: “Bỏ bơ vào một chậu và bỏ đá vào chậu kia. Xong ném cả hai chậu
xuống nước.” Chàng thanh niên làm theo và cả hai chậu đều chìm xuống đáy hồ. Rồi
đức Phật nói tiếp: “Bây giờ lấy một cây gậy và chọc vào hai chậu ở đáy hồ.”Chàng
thanh niên làm theo. Hai cái chậu bị vỡ và chất bơ vì nhẹ nên nổi lên mặt nước,
trong khi đá nặng nên vẫn nằm dưới đáy hồ. Đức Phật lúc đó nói: “Giờ lẹ lên, đi
mời hết các thầy tu đi. Nói với họ đến đây tụng sao cho bơ chìm xuống đáy và đá
nổi lên trên.” Chàng thanh niên nhìn đức Phật sửng sốt. Anh nói: “Kính bạch Tôn
giả, bộ Ngài giỡn sao. Dĩ nhiên không ai tin bơ nhẹ thì chìm mà đá nặng lại nổi.
Điều đó trái ngược với luật tạo hóa.” Chúng ta muốn được về cõi lành thì kiếp
này phải gắng tu nhân tích đức, bố thí, làm những việc thiện nguyện, sửa đổi bản
thân. Đức Phật đáp: “Vậy con không thấy sao, nếu cha con sống một cuộc đời tốt
lành thì các việc làm của ông sẽ nhẹ như bơ. Do đó, bất kể tình huống nào cha
con cũng sẽ được chuyển lên cõi thiện lành. Không ai có thể ngăn cản được điều
đó, ngay cả chính ta. Vì không ai có thể cưỡng lại luật nghiệp báo. Nhưng nếu
cha con sống một cuộc đời xấu xa thì cũng như hòn đá nặng kia, ông sẽ chìm xuống
địa ngục. Không có số lượng cầu nguyện nào của mọi giáo sĩ quyền năng trên thế
gian này có thể làm ngược điều đó.” Tuy nhiên đọc kĩ lại thì ta thấy, Phật
trong kinh ấy nấn mạnh đến sự chắc chắn thăng thiên của người mang nghiệp lành,
và đoạ địa ngục của người mang nghiệp ác. Như “bơ xuống nước thì nổi, đá xuống
nước thì chìm”. Nếu “chính kiến”, “chính tư duy”, như lời di giáo “đừng vội
tin những gì chỉ vì đó là do kinh điển ghi lại, …” thì ta thấy rất đơn giản: nếu
hòn đá có nhỏ đi chăng nữa thì thả xuống nước cũng chìm, thế nhưng hòn đá dù to
nhưng đặt lên bè thì lại nổi. Lại nữa, trong Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya –
Tập II – Thiên Cung Sự - Phẩm II – Cittalatà - Chuyện Thứ Tư: Lâu Đài của Nàng
Chiên-Đà-La – Tạng Pali- Giáo Sư Trần Phương Lan dịch; hay trong Tiểu Bộ -
Khuddhaka Nikaya – Tập II – Thiên Cung Sự - Phẩm II – Cittalatà - Chuyện Thứ
Ba: Lâu Đài của Người Cho Cơm Cháy – Tạng Pali- Giáo Sư Trần Phương Lan dịch. Đức
Phật và đệ tử đã nhận sự lễ lạy của một bà lão, nhận thức ăn cúng của một cô
gái, để cho họ cơ hội tạo phúc, chuyển nghiệp, sinh thiện niệm cận tử nghiệp, đạt
sinh thiên giới. Kinh tăng nhất A Hàm có khẳng định: Đề bà đạt đa - người phạm
ngũ nghịch - phá tăng, báng pháp, làm Phật chảy máu, khi gần chết, hoan hỷ phát
tâm niệm “Nam mô Phật”, đời sau thành Bích chi hiệu là Nam mô. Như vậy là trong
điều kiện Phật tịch sau này, việc dùng đàn việt, cúng dường vẫn là hợp lý. Việc
hộ niệm, niệm lục tự hồng danh cầu vãng sinh cũng đúng với nguyên lí giúp người
sắp mất khởi sinh thiện niệm. Như vậy nghi tiết Đại thừa sau này, là phương tiện
và vẫn đúng với tinh thần nguyên thuỷ.
-ST-