Quy y nguyên tiếng Phạn là
Saranīa, có nghĩa là trở về nương tựa hoặc trở về với sự che chở và cứu hộ.
Trong các bộ Phệ đà (tên bộ kinh cổ Ấn Độ), từ śaraṇa có nguyên nghĩa là “bảo hộ”,
“cứu tế” hoặc “chỗ tị nạn”, “chỗ bảo hộ”, ý là chỗ chúng sinh có thể đến, thân
được an toàn, tâm được vô ưu.
Hán dịch Saranīa thành Quy y (歸依 - 皈依,
śaraṇa) hay còn được gọi là Y THÁC (依托), QUY ĐẦU (歸投), NGƯỠNG TRƯỢNG (仰仗) -
là quay về để nương tựa. Chữ QUY (歸) có nghĩa ở đây là trở về, theo về,
Y (依)
là nương nhờ hay thuận theo, làm theo lối đã định. Chữ QUY cũng được viết là 皈 gồm bộ
thủ BẠCH 白
(“cõi sáng”) và chữ PHẢN 反, “quay về” và như vậy, có nghĩa là “quay về cõi sáng”, “dốc
lòng tin theo”.
Chúng sinh vô minh, đánh mất bản
chất tốt đẹp, nay hồi nguyên quy bản, tìm về nơi trong sạch vốn có ấy. Để trở về
cái tốt đẹp ấy, phải nương nhờ vào một đấng đạo sư, chỉ đường dẫn lối, nên gọi
là quy y. Theo nghĩa nguyên thủy ấy, thì khi nào ta lựa chọn được một điểm tựa
tâm linh thì đó đã là quy y.
Tuy nhiên, xét về mặt giáo lý mà
nói, vấn đề quy không hề đơn giản như vậy. Về vấn đề “quy” rất phức tạp, chứ
không đơn giản là đem quyển kinh ra tụng, đem tượng ra lạy là “quy”. Muốn
“quy”, trước hết phải có học hành nhất định, có đàn quy, nghi thức theo đúng quy
định, … Sau khi quy y thì tín đồ phải có sự thực hành tôn giáo theo giáo luật của
tôn giáo đó. Vì vậy, người đi lễ đình, lễ phủ, … không được gọi là “Quy Mẫu”,
“Quy y thành hoàng”, … Và người Phật tử đã quy y Tam bảo, không có lí gì lại phải
từ bỏ những tín ngưỡng bản địa này.
-ST-