Danh từ “đồng bóng” thì khá phổ biến trong tín ngưỡng thờ Mẫu rồi,
nhưng chẳng mấy người cắt nghĩa nổi. Không cắt nghĩa nổi thì dẫn đến việc làm
nó biến tướng ra hình tương ngữ nghĩa khác, có thể liên quan nhưng chẳng còn
nguyên gốc.
Chữ “đồng” (童 hay 僮) được hiểu là Đứa nhỏ (vị thành niên) hay như gia đồng -
người đầy tớ trong nhà. Tức là thanh đồng đối với thánh chỉ như đứa trẻ nhỏ -
“xích tử” (con đỏ - như trong văn sớ tứ phủ vẫn hay dùng). Nhìn theo một nghĩa
khác: người ngồi đồng hoàn toàn mất nhận thức về thế giới xung quanh - như một đứa
trẻ thơ, Khi đó người ngồi đồng không còn là chính mình nữa, quên đi cái tôi của
mình mà hóa nhập vào hình bóng thần thánh. Họ trở thành chiếc ghế để thảnh ngồi
(“bắc ghế thánh ngồi, bắc ngôi thánh ngự”) - là công cụ giao tiếp của thánh với
cõi trần (theo nghĩa là “gia đồng - người đầy tớ trong nhà”). Tương tự với từ
“đồng cốt”. Từ “cốt” có nghĩa là xương cốt, thể xác, có thể quan niệm khi hầu Thánh
người ngồi đồng chỉ là xác để chư thánh điều khiển). Và điều đó tức là, KHÔNG
QUAN NIỆM HỒN THẦN THÁNH NHẬP VÀO VÀ CHỈ QUAN NIỆM BÓNG THÁNH “ẢNH” VÀO MÀ
THÔI. Nó khác hoàn toàn với quan niệm của một số người theo tín ngưỡng thờ Mẫu
thế hệ gần đây, do cách biệt không - thời gian và đứt gãy về văn hóa, nên họ
cũng nghĩ và “gọi” nôm na là thánh “nhập”.
Quan niệm này được lặp lại trong câu chuyện đi điền dã của cố GS. Ngô
Đức Thịnh. Khi hỏi một thanh đồng về câu hỏi “Tại sao lại gọi là hầu bóng?”.
Thanh đồng chỉ cho giáo sư thấy chiếc bàn loan gắn gương trước công đồng và nói:
“Đó! Ông nhìn vào đó là hiểu”.
Đó cũng là ý của câu “Kiêm nhập cận vương bất
tưởng phàm/ Uy nghi lẫm liệt phỏng Thánh hiền” trong bài dẫn đồng, phụ đồng hay
câu “Khen ai khéo vẽ phép ẢNH đồng”. Những hành động của thanh đồng trong giá hầu
hoàn toàn được soi chiếu trước mặt gương và đối chiếu ngay với uy nghi liệt
thánh trên công đồng trước mặt.
Quan niệm này là có căn cứ lịch sử, nó có thể là kết quả của một “cuộc
chiến” thật sự. Câu chuyện đại chiến Sòng sơn, nhìn theo góc độ nào đó thì đó
chính là sự mâu thuẫn trong đường lối, hành trì của các phe phái huyền môn tại
miền Bắc. Không phải ngẫu nhiên mà trong khi một số phái phù lục ảnh hưởng từ Đạo
giáo chủ trương “MẬU BẤT TRÀO CHƠN” thì phái thờ Mẫu Liễu Hạnh lại chọn 3 ngày
Mậu trong tháng là ngày tụng kinh Mẫu. Nên nhớ, trong biến cố xâm lược Việt
Nam, nhà Minh đã đem theo các môn đồ tông giáo trong đó có Đạo giáo - theo mô
thức Trung Hoa để tàn phá phong hóa dân tộc ta. Sự xuất hiện và hưng khởi quá mức
bình thường sau đó của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh sau đó chính là sự khởi phát của
sự chống đối những tư tưởng áp đặt của Trung Quốc. Dễ thấy Trong Thiên đàn ngọc
cách (trong tập Đạo pháp hội nguyên triều Minh - tương đời thời Hậu Lê nhà ta)
còn ghi lại rằng “TẤT CẢ THƯỢNG CHÂN THIÊN TIÊN THẦN TƯỚNG, KHÔNG NƯƠNG DỰA VÀO
CÁI THỂ CỦA SINH NHÂN; NẾU MÀ “PHỤ” VÀO NGƯỜI KHÁC MÀ NÓI, QUYẾT LÀ TÀ MA NGOẠI
ĐẠO”. Cho đến ngày nay vẫn còn nhiều tín đồ Đạo giáo rao giảng lí điều này ngay
cả trên những miền đất mà Tín ngưỡng thờ Mẫu và phong tục shaman đã phát triển
lâu bền.
Hiện trạng Tín ngưỡng trong cả chiều dài lịch sử và chiều rộng không
gian, đặc biệt là ở miền Nam Trung Hoa cho thấy, shaman giáo hay vu giáo, đồng
cốt phát triển khá thịnh vượng, đồng hóa cả các nhân vật Đạo giáo thần tiên
(như Thái thượng, Hồng quân, Tề thiên, Quan thánh, …). Dễ thấy Vu giáo thì phát
triển bởi tín đồ nữ và tầng lớp bình dân là chính, với phương thức giao thông
trực tiếp giữa nhân và thiên - qua đồng cốt. Trong khi đó, Đạo giáo thần tiên lại
chủ yếu phát triển ở Nam giới, và phát triển trước hết tầng lớp quý tộc và
thông qua các loại kinh sách được coi là “Thiên giáng” (như trường hợp Thái
Bình kinh, …), các tín đồ chỉ có thể giao tiếp qua con đường tiếp xúc với các
kinh điển này.
Vì vậy, có thể khẳng định rằng quan niệm “CHÍNH THẦN BẤT PHỤ THÂN” là
một dấu vết lịch sử về tranh giành giữa khuynh hướng vu thuật và phù lục ở
Trung Hoa. Hề hước là còn rất nhiều người cố tình nhìn qua cái lăng kính của sự
đấu đá ấy để chiêm nghiệm các tín ngưỡng, tôn giáo khác :v :v …
Theo
tamgiaothuongthuc