Tôn Quyền từng đánh bại Tào Tháo ở Ô Lâm
và chiến thắng Lưu Bị ở Tây Lăng, lại từng bắt giữ Quan Vũ ở Kinh
Châu. Ông được người đời ca ngợi là thần võ anh hào, và được tôn xưng
là “Hùng lược chi chủ” – người chủ tài năng, thao lược…
Hoàng Long năm đầu tiên (năm 229), Tôn Quyền xưng
đế ở Vũ Xương, lấy quốc hiệu là Ngô, cùng với Tào Tháo và Lưu Bị tạo ra
thế Tam quốc đỉnh lập. Bởi vì nước Ngô ở phía đông vì vậy được gọi
là “Đông Ngô”.
Tôn Quyền
và Khương Tăng Hội
Tôn Quyền từng đánh bại Tào Tháo ở Ô Lâm
và chiến thắng Lưu Bị ở Tây Lăng, lại từng bắt giữ Quan Vũ ở Kinh
Châu. Nếu không phải là thần võ anh hào, thì sao có tôn xưng là “Hùng
lược chi chủ”? Tôn Quyền mặc dù hơn nửa đời người đều ở trên lưng
ngựa, chinh chiến sa trường, nhưng lại là người có tấm lòng nhân hậu,
vừa có học vấn lại tôn trọng phẩm đức cao thượng. Những anh hùng có
tiếng trong giang hồ đều quy phục ông.
Dưới sự cai trị của Tôn Quyền, bách tính
sĩ tộc nhà Ngô bắt đầu học tập Phật Pháp, tuy nhiên mức độ hiểu
biết chưa được thâm sâu. Xích Ô năm thứ mười (năm 247), có một vị cao
tăng tên là Khương Tăng Hội từ Giao Chỉ (tức Việt Nam hiện tại) đến kinh đô
của Đông Ngô, xây dựng chùa miếu nhỏ, chế tạo tượng Phật, giảng dạy
Phật pháp cho người dân bản địa. Sau này, người ta coi Khương Tăng Hội là
thiền sư đầu tiên được ghi chép trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và là ông tổ của
Thiền tông Việt Nam.
Khương Tăng Hội có tướng mạo đặc thù, quần
áo cũng khác hẳn so với người thời ấy. Sau khi vị này đến Đông Ngô,
tự xưng là sa môn, người dân cảm thấy có điều khả nghi, vì vậy
chuyện này cuối cùng được bẩm báo lên Tôn Quyền. Sau khi nghe xong, Tôn
Quyền nói: “Trong quá khứ, Hán Minh Đế từng nằm mộng thấy Hoàng Kim
Đại Thần, danh xưng là Phật Đà. Người này hành động kỳ lạ, phải
chăng cùng Phật Đà có mối quan hệ gì đây?”.
Tôn Quyền là “Hùng lược chi chủ”, có kiến
thức rộng rãi, mặc dù chưa gặp qua Khương Tăng Hội nhưng đã đoán được
rằng người này có mối quan hệ với Phật Đà. Tôn Quyền sinh ra đã
thông minh, trí tuệ, theo như sử sách ghi chép, khi mẫu thân của Tôn Quyền
là Ngô phu nhân mang thai Tôn Sách, bà đã mơ thấy mặt trăng bay vào
trong bụng. Còn khi mang thai Tôn Quyền bà lại mơ thấy mặt trời rơi
vào trong bụng. Khi nghe phu nhân kể lại, Tôn Kiên đã vô cùng vui mừng,
lúc đó ông nói: “Nhật nguyệt là tinh hoa của âm dương, điều này tượng
trưng cho phú quý vô tận”. Khi Tôn Quyền được sinh ra, đôi mắt mang theo
tinh hoa của ánh sáng, sau khi lớn lên hình tượng càng thêm kỳ vĩ.
Trong thời kỳ đầu của Tam Quốc, kinh pháp
Phật gia còn chưa truyền nhập vào Đông Ngô, tuy nhiên đối với những gì
chưa được biết đến, Tôn Quyền vẫn giữ thái độ tôn trọng.
Gia Hòa năm thứ hai (năm 237), Tôn Quyền nhìn
thấy “Xích Ô tập ư điện tiền” (Xích Ô tập trung trước điện), nghĩ
đến thời xưa có tập thư “Xích Ô Hàm Đan” do hai vị Chu Xã Vương và Chu
Văn Vương ứng vận mà sinh ra, vì vậy Xích Ô được xem như tượng trưng cho
cát tường. Tôn Quyền chính mắt nhìn thấy Xích Ô trước điện, liền
truyền lệnh xuống thay đổi niên hiệu là “Xích Ô”.
Tôn Quyền
gặp gỡ vị cao tăng khác người
Huyện Lâm Hải, La Dương có một người tên gọi
Vương Biểu, sở hữu một dị thuật thần kỳ. Thái Nguyên năm đầu tiên (năm
251), sau khi Tôn Quyền biết tin, ông đã phái Phụ Quốc tướng quân và La
Dương Vương Lý Sùng đi đến mời đón Vương Biểu. Sau khi Vương Biểu đến,
Tôn Quyền cũng giúp người này bố trí nơi ở bên ngoài Thương Long Môn,
còn nhiều lần phái người ban thưởng rượu và món ăn ngon.
Vì vậy, khi Tôn Quyền nghe nói có vị cao
tăng ngoại vực đến, đầu tiên ông nghĩ người này chắc chắn khác hẳn
so với người thường, liền triệu kiến Khương Tăng Hội. Tôn Quyền hỏi
Khương Tăng Hội rằng: “Phật Pháp mà cao tăng truyền dạy linh nghiệm như
thế nào?” Khương Tăng Hội đáp: “Từ khi Phật tổ niết bàn cho đến nay
đã qua hơn ngàn năm, lúc bấy giờ di cốt của Ngài hóa thành Xá Lợi
và Quang Hải Đoạt Mục. A Mục Vương đã thu thập và vì để bảo quản Xá
Lợi nên cho xây dựng ‘Bát vạn tứ thiên tọa Phật tháp’. Vì muốn hoằng
dương Phập pháp của Phật tổ, mà hậu thế cũng tu kiến Phật Tháp”.
Khương Tăng
Hội cầu được Xá Lợi
Tôn Quyền nói rằng: “Nếu như ngài có thể
cầu được Xá Lợi, thì ta sẽ mời người đến xây dựng Phật Tháp cho Xá
Lợi của ngài. Nếu như ngài chỉ là yêu ngôn hoặc chúng, thì phải
chịu xử phạt theo luật lệ Đông Ngô”.
Khương Tăng Hội xin bảy ngày làm giới hạn,
cao tăng và đồ đệ cùng nhau tắm rửa thay đồ, đặt một chiếc bình đồng
trên án, cùng nhau ngồi thiền, thành tâm cầu nguyện, đốt hương bái lễ
cầu Xá Lợi. Tuy nhiên, bảy ngày đã qua, bình đồng vẫn không có động
tĩnh gì. Khương Tăng Hội xin thêm bảy ngày nhưng kết quả vẫn như vậy.
Khương Tăng Hội lại xin thêm bảy ngày, lúc này Tôn Quyền vô cùng tức
giận, nói: “Nếu việc này là lừa gạt vậy thì tội càng thêm tội, tăng
thêm hình phạt”.
Tất nhiên việc cầu Xá Lợi không hề dễ dàng
như dời củi chuyển nước. Cũng có thể do đệ tử của Khương Tăng Hội
sợ hãi trước uy thế của Tôn Quyền nên không có cách nào tĩnh tâm mà
cầu nguyện. Khương Tăng Hội nói với các đệ tử rằng: “Phật Đà từ bi
sẽ luôn linh nghiệm, nhưng chúng ta lại không thể cảm động đến Thần
Phật, thì cần gì phải chịu đến hình phạt của quốc vương? Việc này
quyết thề chết làm kỳ hạn, nếu như vẫn không thể cầu được Xá Lợi,
vậy thì chúng ta hãy tự thỉnh cầu được ban chết”.
Khi thời gian bảy ngày lần thứ ba hết hạn,
chúng đệ tử vẫn không nhìn thấy Xá Lợi nên vô cùng sợ hãi. Nhưng đến
canh năm, mọi người nghe thấy âm thanh thanh thúy phát ra từ trong bình
đồng. Sau khi mở nắp bình đồng quả nhiên là thấy có Xá Lợi do Đức
Phật ban tặng.
Khương Tăng Hội mang theo Xá Lợi tiến vào
cung điện, Xá Lợi đột nhiên phát ra ánh sáng năm màu rực rỡ. Những
người ở Đông Ngô chưa từng nhìn thấy cảnh tượng kỳ dị này, cho nên
bị dọa liên tục lui về phía sau. Tôn Quyền chính tay tiếp nhận bình
đồng, đổ Xá Lợi ra một chiếc mâm đồng, không ngờ Xá Lợi làm cho mâm
đồng nát vụn, Tôn Quyền cả kinh, hưng phấn vui mừng nói: “Thật sự là
vật lành hiếm có”.
Ngọn lửa Xá Lợi hừng hực muốn đốt cháy
cả đại điện, ngay cả trụ kim cương cũng muốn vụn nát. Tôn Quyền cũng
bị dọa đến kinh hãi, lập tức hạ lệnh xây một Phật tháp cho Xá Lợi.
Cũng bắt đầu từ đây, Đông Ngô có Phật tự, tên gọi là “Kiến Sơ Tự”.
Tôn Hạo
phái Trương Dục đến tìm Khương Tăng Hội bàn luận
Sau khi cháu trai của Tôn Quyền là Tôn Hạo kế vị,
người này hành vi bạo ngược, pháp lệnh nghiêm khắc. Hắn hạ lệnh phế bỏ mọi nơi
thờ cúng (cúng tế), bao gồm cả việc thờ phụng Phật, hắn từng nói với thần tử rằng
nếu Phật Pháp và trung sĩ Thánh nhân trong điển tích tương hợp, thì sẽ cho
phép Phật Pháp tồn tại, còn nếu không thì phá hủy tận gốc Phật tự. Có
vị đại thần đứng ra khuyên giải hắn: “Uy lực của Phật và các vị Thần khác
không hề giống nhau. Ban đầu Khương Tăng Hội dựa vào tinh thần thành thực cảm động
được Phật ban cho Xá Lợi, đại đế mới bắt đầu xây dựng Phật tự. Cho nên bây
không thể phá hủy Phật tự”.
Tôn Hạo liền phái Trương Dục vốn là người có tài
ăn nói nhất trong triều đi tìm Khương Tăng Hội bàn luận. Trương Dục mặc dù lanh
mồm lợi mép, tư duy nhanh nhẹn, nhưng Khương Tăng Hội lại là người có mạch
suy nghĩ như một mũi tên sắc bén, Tăng Hội đem Trương Dục ra chất vấn dồn dập.
Cuối cùng Trương Dục đuối lý lẽ chỉ có thể cáo lui. Ở cổng lớn của Phật tự,
Trương Dục nhìn dâm tự bên cạnh Phật tự, cười lạnh lùng nói: “Phật Pháp đã
khai truyền, tại sao người ở gần khuôn viên Phật tự như thế lại không thể cảm
hóa?”.
Khương Tăng Hội đáp: “Ngàn vạn sấm sét có
thể phá hủy một ngọn núi nhưng người điếc lại không nghe thấy, lẽ nào
là vì tiếng sấm quá nhỏ ư? Nếu người có thể thông đạt đạo lý này, thì dù tương
cách vạn dặm tâm cũng sẽ cảm nhận được, nếu tự thân ngu muội u mê, thì có ở gần
vài dặm cũng như xa tựa chân trời”.
Tôn Hạo
bất kính với Phật phải nhận lấy kết quả toàn thân sưng phù
Khương Tăng Hội tài trí đã đạt đến mức cao
siêu, không phải kẻ phàm phu tục tử có thể đạt đến được. Tôn Hạo
nhìn thấy sự thất bại của Trương Dục mới chấp thuận lưu lại điển
tịch nhà Phật và các tự viện. Tuy nhiên từ trong lòng đã đa nghi tàn
bạo, bất kính với Thần Phật. Có một lần khi hộ vệ của hắn từ
trong hoa viên tìm được một tượng Phật cao hơn vài thước, Tôn Hạo liền
ra lệnh đặt tượng Phật ở một nơi bẩn thỉu, dùng nước phân tưới lên,
hắn và quần thần ở một bên xem lấy làm vui vẻ. Thế nhưng không bao
lâu sau toàn thân của Tôn Hạo đều xưng phù, miệng kêu lên những tiếng than
vãn đau xé tâm can.
Thái sử Chiêm Bộc nói: “Đây là vì mạo phạm
đến Đại Thần”. Lúc đó Tôn Hạo mới ôm lấy chân tượng Phật, hạ lệnh
cúng tế các vị Thần trong miếu. Phàm là những vị mà hắn cho là
Đại Thần đều cúng tế qua một vòng nhưng không có ích gì. Có một cung
nữ nói rằng Phật cũng là Đại Thần, nàng khuyên Tôn Hạo nên đến cầu
xin trước tượng Phật trong Phật tự.
Lúc bấy giờ, trong lòng Tôn Hạo mới tỉnh
ngộ, thì ra Phật cũng là Đại Thần. Sau khi cung nữ dùng nước thơm
rửa sạch tượng Phật mấy chục lần, rồi đưa tượng Phật đến đại điện,
đối diện với tượng Phật đốt hương ăn năn hối cải, ngay cả Tôn Hạo cũng
khấu đầu bái lạy tạ tội. Kết quả những cơn đau đớn mãnh liệt đều
chấm dứt.
Khương Tăng Hội cống hiến hết sức lực của
mình, đưa Phật pháp truyền vào Đông Ngô, giảng dạy cho chúng sinh,
dùng chính trí huệ của Phật tử để bảo vệ duy trì Phật Pháp, ngoài
ra còn cố hết sức dịch thuật các bộ kinh điển của nhà Phật. Trong
quá trình này ông không ngừng chứng kiến những điều thần kỳ, lưu lại
sử sách, truyền kỳ cho đến ngày nay. Cho dù đã cách ngàn năm thời
gian nhưng vẫn có tác dụng khiến cho con người cảm thấu và lĩnh ngộ.
(Tham khảo
“Tam Quốc Chí. Ngô Thư. Ngô Chủ Truyện”, “Cao Tăng Truyện”, “Thái Bình
Quảng Ký” và “Sưu Thần Ký”).
