Đức đệ tứ Pháp Chủ - HT Tôn sư Thượng Trí Hạ
Quảng khai thị
Sau khi thân tứ đại ở cõi Ta-bà này chấm dứt, giữa khoảng thời
gian đã chết và thời gian chưa tái sanh vào cảnh giới khác, trải qua 49 ngày,
người chết có một cái thân gọi là thân trung ấm hay thần thức, mà người ta thường
gọi là linh hồn.
Ngoại trừ những người tu hành đắc đạo hay người có tâm thuần
thiện thì tái sanh liền, họ sẽ sanh về Tịnh độ, hay sanh lên Thiên giới. Những
người cực ác cũng vậy, vừa tắt thở thì họ đọa ngay vào ba đường ác, không trải
qua thân trung ấm. Còn tất cả mọi người sau khi chết đều trải qua giai đoạn
trung ấm. Thân trung ấm sẽ đi thọ sanh vào loài nào tùy theo nghiệp lực của
chính họ dắt dẫn. Thân trung ấm là trạng thái vi tế, mặc dù không có mắt, tai,
mũi… như thân tứ đại lúc còn sống, nhưng nó cũng có khả năng thấy, nghe, hay biết,
đi lại… Tuy nhiên, đó chỉ là do nghiệp thức biến hiện mà thôi.
Thật vậy, người chết chẳng những sắc uẩn là thân vật chất
không còn, mà cả thọ, tưởng, hành uẩn cũng không có. Họ chỉ còn giữ lại thức uẩn,
nhưng khi còn sống, thức uẩn do thọ, tưởng, hành uẩn huân tập mà thành. Do đó,
lúc chết, cả ba phần là thọ, tưởng và hành (nghĩa là cảm thọ, tưởng tượng, hành
vi tạo tác trong tâm) đều lưu lại trong thức uẩn. Nó khiến cho vong linh hay thần
thức bị ám ảnh, cảm thấy nóng lạnh, đói khát, khổ đau…; trong khi sự kiện thực
tế gây ra nóng lạnh, đói khổ, không hề có. Thí dụ thần thức người chết cảm thấy
bị đánh đau đớn, là vì lúc sống họ đã bị đánh và có cảm nhận đau đớn. Sự kiện
và cảm nhận đó được lưu trữ trong A-lại-da thức. Đến khi chết, mặc dù thực sự
không bị ai đánh cả, nhưng vì thần thức vẫn còn hoạt động, vẫn còn nghĩ rằng họ
đang bị đánh đau. Bấy giờ là “Thức” bị đau, không phải thân đau, vì không còn thân.
Như vậy, người chết sống với nghiệp thức, nên họ khổ vì nghiệp thức.
Chính vì thân trung ấm sống với nghiệp thức, cho nên thời
gian này, thần thức người chết ở trạng thái khi mờ khi tỏ, từ đó thường chiêu cảm
sự bất ổn, nỗi thống khổ. Khi thì thần thức cảm thấy hoảng hốt vì lạc vào thế
giới xa lạ, khác hẳn cuộc sống dương thế, với những cảnh tượng và âm thanh ghê
sợ hiện ra đe dọa. Lại có lúc thần thức nổi lên lòng luyến ái vợ con, tiếc nuối
tài sản. Hoặc đau khổ oán hận, không chấp nhận cái chết, vì oan ức…
Tất cả những tâm lý khổ đau ấy đều do nghiệp lực quá khứ
chiêu cảm mà khởi lên. Nói chung, khi chết, tùy theo nghiệp mà cảm thọ khổ vui
và sau đó lại sanh thân trung ấm khác để tiếp tục tìm thân nào ưa thích mà thọ
sanh.
Biết nỗi khổ của hương linh như vậy, thân bằng quyến thuộc có
thể nhờ các bậc chân tu đức hạnh khai thị để cảm hóa, giải tỏa nỗi khổ niềm đau
cho hương linh. Và chính người thân hiện tiền mỗi ngày cũng vì người quá vãng
mà tụng kinh, niệm Phật và bố thí, cúng dường để nhắc nhở hương linh hướng tâm
về Phật, về việc làm thiện lành.
Nhờ chí thành nghĩ đến Phật và những điều thiện đã từng làm,
hay do thân quyến hồi hướng, mà hương linh tiếp nhận được năng lượng từ bi, giải
thoát của Phật, năng lượng an vui của việc tốt lành, nên nghiệp thức của hương
linh được lắng yên, thanh tịnh theo, từ đó họ sẽ được oai lực của Phật tiếp độ
vãng sanh về Cực lạc, hoặc về cảnh giới an lành.
Hiểu rõ tác động chi phối của thiện nghiệp và ác nghiệp như
thế nào đối với người chết, họ sẽ đi về đâu, để chúng ta xây dựng cho mình cuộc
sống theo Phật dạy, lấy trí tuệ và giới đức trang nghiêm thân tâm. Được như vậy,
chắc chắn chúng ta sẽ có cuộc sống an lạc, giải thoát ngay trong hiện đời và
khi rời bỏ huyễn thân này, đi vào cảnh giới nào tùy theo sở nguyện của mình,
cũng như có thể cứu độ người thân quá vãng và những vong linh hữu duyên với
mình.
ST
