Bây giờ có ai hỏi gì không?
Phật tử hỏi: Người tu mình muốn tự tại với nghiệp lực,
và giải trừ nghiệp lực?
Sư phụ: Định nghĩa Tự tại là sao? Giải trừ là sao?
Tôi không hiểu gì hết.
Phật tử: Tự tại nghiệp lực có nghĩa là mình vẫn còn
là nghiệp lực của mình, Tự tại với cái nghiệp lực có nghĩa là gia đình không
còn dính mắc cái nghiệp lực của mình. Đó gọi là Đới nghiệp vãng sanh.
Sư phụ: Đới nghiệp là sao?
Phật tử: Dạ, có nghĩa là mình vẫn còn mang nghiệp, mà
mình vẫn vãng sanh, là mình trở về với cái Chân tâm của mình.
Sư phụ: Vậy qua ông Cực lạc mới trở về, còn ở đây trở
về không được?
Phật tử: Dạ.
Sư phụ: Ông dùng “Đới nghiệp” là sao? Nghĩa là ở đây
không bao giờ nhất niệm được, qua Cực lạc mới nhất niệm được. Sao gọi là Đới
nghiệp? Đới nghiệp là gì?
Phật tử: Dạ, Đới nghiệp là mình vẫn còn mang nghiệp
mà mình vẫn tự tại trong nghiệp lực của mình.
Sư phụ: Làm sao biết tự tại? Qua thế giới
Cực lạc làm sao biết tự tại?
Phật tử: Cho nên con nói Đới nghiệp vãng sanh.
Sư phụ: Làm sao Đới nghiệp vãng sanh chớ?
Phật tử: Là mình tự tại với nghiệp lực của mình,
trong lúc mình còn mang nghiệp.
Sư phụ: Tại sao ở đây tự tại không được, phải qua đó
mới tự tại.
Phật tử: Con nói tự tại có nghĩa là cái tâm của mình
tự tại chớ không phải là qua cái thế giới khác à.
Sư phụ: Tự tại nghĩa là gì?
Phật tử: Tự tại nghĩa là không dính mắc các pháp.
Sư phụ: Sao gọi là dính mắc?
Phật tử: Dạ, mình nhận lầm các pháp cho nên mình mới
bị dính mắc.
Sư phụ: Rồi làm sao không dính mắc?
Phật tử: Con nói tới đây hết rồi.
Sư phụ: Cái Đới nghiệp vãng sanh khác, cái tự tại
trong cái nghiệp nó khác. Tự tại trong nghiệp thì ở đây tự tại cũng được, mà về
Cực lạc cũng tự tại. Còn Đới nghiệp vãng sanh, ở đây bị dính mắc, mà về Cực lạc
nó không dính mắc, tức là về Cực lạc vẫn trả nghiệp như thường, nhưng mà nếu nhờ
cái Phật lực A Di Đà đó, cái nghiệp nó không hiện hành được, bởi vì nó thiếu điều
kiện. Thí dụ, tôi nói thí dụ cho hiểu thôi, bây giờ ông sát sanh hén, ông giết
người hay ông giết loài thú này kia, nó định trả thù ông, mà nếu ông ở ngoài
thì nó trả thù dễ dàng, còn nếu ông vô xuất gia mà gặp Phật Thích Ca rồi thì
khó trả thù, Ngài sẽ che chở, Ngài sẽ độ cái người trả thù ông đó xuất gia
luôn. Thành ra cái nghiệp nó không có, nó có nhưng mà người trả thù cứ mà gặp
Phật rồi thì khó mà giết ông trước mặt Phật, ông hiểu kịp không, thì Ngài biết
cái tâm của người trả thù đó thì Ngài sẽ nói trúng nó, nó sẽ tha thứ cho ông
hoàn toàn, nó đi xuất gia luôn, cái đó gọi là nhờ cái Phật lực của A Di Đà, Phật
lực của Phật Thích Ca. Thành ra về thế giới Cực lạc rồi thì ông có thể khỏi
lĩnh nghiệp, nhưng cái nghiệp cũ ông mang vẫn còn.
Nhưng mà có 2 cách trả nghiệp:
1/ Một cách trả nghiệp bằng: Thân - Khẩu - Ý.
2/ Một cách trả nghiệp bằng Ý, không có thân, khẩu.
Tôi nói thí dụ cho ông hiểu. Thí dụ:
- Bây giờ ông muốn ăn thịt con gà, rồi ông kêu người
ta giết, cái miệng kêu, cái thân ông giết tiếp, thì ông giết con gà đó có nghiệp
thân, nghiệp miệng, nghiệp ý luôn, hiểu kịp không.
- Còn nếu ông nằm chiêm bao ông thấy thích ăn con gà,
chiêm bao nhé, rồi ông sai người ta đi giết, ông chặn đón để bắt, rồi khi con
gà chết thì ông có ý nghiệp thôi, thân không có, khẩu không có, con gà không có
mạng sống, nó không trả thù được, con gà trong chiêm bao mà. Thì thế giới Cực lạc
như vậy, cho nên là Đới nghiệp vãng sanh. Ông về đó sống với Phật A Di Đà thì
không có trả được, vì thế giới không có 4 đường ác, nhưng mà thời gian Đức Phật
A Di Đà mới đẩy ông ra khỏi cái Phật lực của Ngài, ông trở về với đời sống tư
tưởng, Alaya của ông, thì bây giờ tất cả những nghiệp ông làm nó sẽ hiện hành
ra trong giấc chiêm bao thì ông thấy cảnh giới hồi đó ông làm sao nó hiện ra hết
thì ông phải trả cái nghiệp của ông, ông thấy bị vằn vật, bị đâm chem, bị người
ta trả thù, thì tới chừng đó phát cái Bồ đề tâm tha thứ người ta, ông tu tập lại,
còn nếu ông có cái tâm ác nữa thì Đức Quan Âm hiện ra vỗ vai ông, ông trở về Cực
lạc là nhờ Đức A Di Đà lại cho tới chừng nào cái tâm, ý nghiệp của ông chấm dứt
rồi đó thì bây giờ cái chiêm bao không còn nữa, chiêm bao là do cái nghiệp cũ của
ông mới có, mà khi ông đã sửa hết nghiệp cũ rồi thì chiêm bao không có nữa, thì
bây giờ ông hoàn toàn ở với Phật A Di Đà, thì cái đó kêu là Đới nghiệp vãng
sanh, đem cái nghiệp mang về đó để trả dưới hình thức độc ảnh cảnh thôi, độc ảnh
cảnh tức là những cái giấc chiêm bao, không có đới chất cảnh tức là không có
xác thân mà chỉ có tư tưởng thôi, thành ra về đó dễ trả nghiệp hơn ở đây.
Ở đây, thí dụ giết người đó, người đó trả thù lại, mà
bây giờ ông có thể ông tha thứ, ông tu hành, ông sám hối đủ thứ, nhưng mà ông
còn tạo cái nghiệp mới, không giết người đó, không giết loài thú đó, nhưng mà
ông giết loài thú khác, thì thế giới này làm sao tránh được “Trong cõi trần ai
bụi bậm này, giữ làm sao mà khỏi lấm tất son”.
Còn thế giới Cực lạc ông muốn phạm cũng không phạm được,
không có thịt gà, heo, chó,… không có những điều kiện để ông phạm tội, mặc dầu
cái nhân: tham - sân - si vẫn còn, nhưng cái điều kiện hỗ trợ cho nó không có,
thành ra có nhân mà không có đất đai, không có ai tưới nước thì hột giống này
nó nằm đó chờ chết, giống lép thì nó tiêu luôn, hột giống già thì nó nằm đó chờ
thời, thì Đức Phật A Di Đà cho ông chờ thời dưới hình thức giác chiêm bao, cuối
cùng ông trả được nhưng mà không tạo thêm cái nghiệp mới bằng thân - khầu - ý.
Hiểu kịp không?
Thành ra ra đời gặp Phật là một cái hy hữu vô cùng, dầu
không muốn thành Phật, cũng thành Phật. Còn không có Phật, mà ông muốn thành
cũng xuống 4 đường ác, bởi cái hoàn cảnh nó quá khắc nghiệt, nhất là thời buổi
này, vật chất lên ngút trời, cái phương tiện để mà thỏa mãn cái lục dục nó quá
nhiều, con người thu thúc sống đơn giản rất là khó, mà nếu ông không sống đơn
giản ông chạy theo hoài thì ông tạo nghiệp thêm, còn ông sống không giống người
ta, người ta sẽ đì ông, nếu ông đi làm việc, thí dụ một cái phe người ta tham
nhũng, ông ấy nó là nó đẩy ông, nó có thể giết ông chết luôn. Còn nếu ông sống
với người tu không, mà chân tu, muốn làm ác không có ai làm, trăm người có một
mình ông hà, ông không làm được, do đó cái điều kiện rất là quan trọng đối với
người sơ cơ.
Thành ra thời buổi này là thời buổi mạt pháp, thời buổi
tham, cái dục vọng của người ta, tham cái tiện nghi làm sao thỏa mãn cái dục vọng
rất là đầy đủ, do đó con người rất khó tu. Còn mấy người vào chùa tu được, như
người trụ trì chùa mà chân tu rất là ít, có nhưng mà không có người chân tu
đâu, thành ra đi đâu rồi cũng gặp cảnh ác không, ông là con khỉ hễ gặp đâu là
dính mắc vào đó, trừ ra Alahán và Bất lai là không dính mắc, mà Alahán và Bất
lai cần gì ở chỗ này nữa mà tu.
Thành cõi này mà tìm thầy sáng, bạn lành, nhất là thời
buổi này rất là khó, chùa chiền thì rất nhiều, nhưng mà người thật tu rất ít,
người thật tu là phải không có tiền bạc, không có radio, không có tivi, không
có chùa to cột lớn, mà tạo mấy cái đó là anh phải kiếm tiền, kiếm tiền là phải
dính mắc vào, mà dính mắc làm sao gọi là người tu, người tu là phải không dính
mắc vào cái gì hết, phải sống đời sống rất là đơn giản, mà đời sống đơn giản mà
làm sao sống, có honda, xài điện, xài nước,… này kia thì phải trả tiền, rồi tiền
đâu mà trả, thành ra nó khó. Bây giờ ông hiểu kịp chưa?
Thành ra nói chỗ đó, Đới nghiệp vãng sanh, ông phải sống
làm sao trong nghiệp ông phải tự tại, tự tại tức là ông phải rõ cái diễn biến của
nghiệp. Chớ bây giờ tôi nói thí dụ tôi sân. Mà cái gì làm ông sân, ông biết
không? Muốn hết sân ông phải niệm Phật để đè nó xuống, hết không?
Phật tử: Dạ không hết.
Sư phụ: A! Không hết. Bây giờ ông quán, hồi đó mình
chửi người đó, bây giờ người đó chửi lại, bây giờ tha thứ cho họ, hết không?
Phật tử: Dạ không hết.
Sư phụ: Tại sao vậy?
Phật tử: Tại vì mình dính mắc vào trong cái nghiệp
mình tưởng đó.
Sư phụ: À! Rồi bây giờ làm sao hết?
Phật tử: Con nghĩ mình phải công nhận nó có trong cái
hiện hữu của mình mà mình không dính mắc, bởi vì nó là vô thường.
Sư phụ: Ông nói vô thường mà ông vẫn thấy khổ đau rồi
làm sao?
Phật tử: Dạ. cho nên nói cái đó là tập tu.
Sư phụ: Không được. Tập tu thì vẫn dính mắc thôi.
Phật tử: Dạ đúng ạ.
Sư phụ: Nhưng mà làm sao khỏi dính mắc.
Phật tử: Không dính mắc tức là thấy được thật tướng của
nó
Sư phụ: Cái thật tướng nó ra làm sao?
Phật tử: Mình thấy nó thật sự, mình thấy ở cái gốc độ
gọi là đó là sanh diệt.
Sư phụ: Làm sao thấy nó là sanh diệt?
Phật tử: Bởi vì nó thường diễn biến trong cuộc sống của
mình.
Sư phụ: Ông làm sao cũng kẹt hết trơn á, đặt cái chữ
“làm sao” là kẹt. Không phải là chấp nhận cái sân, khi mình sân mình biết mình
sân đó là cái sai rồi, rồi bây giờ biết sân rồi làm sao cho hết sân thì là một
cái sân nữa. Thành ra chúng sanh phải bị đau khổ là tại đặt vấn đề, mà cuộc sống
tự nó không có vấn đề. Ông hiểu kịp không? Bây giờ tôi sân, tôi nói “à tôi biết
tôi sân”, bây giờ làm sao hết sân, “làm sao”, bây giờ có một trăm ngàn pháp môn
cũng không hết sân được, bị mình tìm không được, không thấy rõ cái sân, bây giờ
sân mình biết một cách lờ mờ tôi sân, bây giờ tôi tìm cách tiêu diệt cái sân,
mà thật sự cái sân không có.
Từ đâu mà có sân? Thì phải tìm cái tiến triển của cái
sân, chớ không phải là đặt vấn đề sân, ông chấp nhận cái sân là một cái ngu,
tìm cách diệt sân là một cái ngu nữa, càng diệt thì càng thay thế cái sân.
Mà sân từ đâu mà có? Thì mình thấy sân là do lỗ tai,
do con mắt, con mắt tiếp xúc với người chửi mình, cái lỗ tai nghe tiếng chửi,
khi cái lỗ tai nghe tiếng chửi mình thấy rằng có người chửi, có mình bị chửi,
và có tiếng chửi tục tĩu, rồi bây giờ bắt đầu tư tưởng mới phát hiện có người
chửi tôi, có tôi bị chửi, và có tiếng chửi tục tĩu thì cái sân bắt đầu từ đây,
từ đây mới có vấn đề.
Và nếu ông thấy rõ người chửi, mình bị chửi, và có tiếng
chửi không có, ông Lặng lẽ lắng nghe nó, thì tư tưởng không khởi, mà tư tưởng
không khởi thì cái sân không có, mà cái sân không có thì lấy gì trừ, đâu có vấn
đề.
Phật tử: Nhưng mà cái sân vẫn có hiện hữu của thân -
khẩu - ý chớ Sư phụ, nó vẫn có, ai chửi mình một câu mình cũng biết đó là cái
sân của mình nó hiện hành.
Sư phụ: Ông lấy cái gì biết?
Phật tử: Lấy cái ý biết.
Sư phụ: Lấy ý là tư tưởng.
Phật tử: Dạ.
Sư phụ: Mà ông biết tư tưởng từ đâu mà có?
Phật tử: Cái tư tưởng là do có cái nhân duyên tạo
thành cái tư tưởng đó.
Sư phụ: Mà cái gì làm thành tư tưởng đó?
Phật tử: Thì đó gọi là nhân duyên đó.
Sư phụ: Cái gì là nhân duyên?
Phật tử: Theo con thì ở trong Phật nói nhân duyên tạo.
Sư phụ: Tư tưởng sở dĩ khởi là do lỗ tai ông, do tiếng
chửi của người đó. Phải không? Cái tiếng chửi, cái lỗ tai, lỗ tai mới bắt đầu
rung động cái màng nhĩ. Phải vậy không? Thì nhờ cái màng nhĩ cảm giác mượn cái
màng nhĩ này mới phát hiện ra dễ chịu hay khó chịu, nếu tiếng chửi tục thì mình
thấy khó chịu, rồi cái tiếng đó là tiếng khen thì cảm thấy dễ chịu, nhưng tại
sao dễ chịu, tại sao khó chịu thì nó đưa lên óc, bây giờ những cái kinh nghiệm
kiến thức do mạtna cung cấp thì nó bắt đầu phê phán, à cái dễ chịu mình nên giữ
lấy, cái khó chịu mình tìm cách đuổi nó, điều khiển, tiêu diệt nó, rồi cái vấn
đề bắt đầu từ đây. Mà nếu ngay đầu ông không thấy được nó, ông để tới chừng nó
phát sanh rồi bây giờ mới tìm cách đối trị nó thì ông lẩn quẩn.
Thành ra khi mà con mắt tiếp xúc với sắc, cái lỗ tai
tiếp xúc với âm thinh thì ông phải Biết liền, ông Lặng lẽ Biết nó, ông giữ lấy
cái Biết.
Chớ bây giờ ông đi, ông không biết mình đi, đó là 4
đường ác.
Bây giờ ông biết tôi đang đi, thì cái biết này đo tư
tưởng xen vô. Chớ không có tư tưởng làm sao ông biết ông đi, hén, ông đi mau
ông biết mình đi mau, đánh vòng xa ông biết mình đánh vòng xa, thì tư tưởng nói
đánh vòng xa không tốt, sửa lại.
Còn bây giờ tôi qua Bát nhã. Tôi đi thì cái thân đi,
tôi Biết cái thân đi. Cái Biết có đi không?
Phật tử: Dạ không.
Sư phụ: À! Rồi tôi đánh vòng xa, cái thân đánh vòng
xa, Biết đánh vòng xa. Cái Biết có đánh vòng xa không?
Phật tử: Dạ không.
Sư phụ: À! Bây giờ ông đừng nhận đánh vòng xa là tôi.
Tôi đánh vòng xa và cái Biết thân đánh vòng xa. Hai
cái khác không?
Phật tử: Dạ không khác.
Sư phụ: Tôi đánh vòng xa là có vấn đề, xác thân này
là tôi, xác thân này do tư tưởng tôi, thì đánh vòng xa nó xấu quá, tôi phải sửa
lại.
Còn khi tôi Biết rằng thân đánh vòng xa, thì cái Biết
này không có đánh vòng xa, thì cái Biết này không thấy xấu tốt gì hết, nó chỉ
nhận lấy ngay trân cái đánh vòng xa thôi, nó không cải sửa gì hết, nó Lặng lẽ
nó theo dõi, thì ông không phải là xác thân, mà ông là cái Biết.
Còn nếu tôi đánh vòng xa, xác thân này của tôi thì bắt
đầu có luân hồi sanh tử, có vấn đề, có cuộc sống, có đau khổ, có cải sửa, thì cải
sửa là xiềng vàng, không cải sửa đó là xiềng sắt, xiềng cây.
Còn bây giờ nhìn thân y như là thân, giữ lấy cái Biết
này, thì đây là Phật, không có vấn đề, có tất cả hiện tượng xảy ra nhưng mà
không dính mắc vào cái nào hết.
- Phật tử: Ngay cả cái Biết mình có dính mắc không?
* Sư phụ: Hả!
- Phật tử: Ngay cả cái Biết mình không dính mắc hả?
* Sư phụ: Cái Biết là cái gì mà dính mắc?
- Phật tử: Cái Biết mà Sư nói.
* Sư phụ: Cái thân thay đổi chớ cái Biết làm gì thay
đổi. Cái thân đi, cái Biết có đi không?
- Phật tử: Thưa không.
* Sư phụ: Cái thân đi lẹ, cái Biết có đi lẹ không?
- Phật tử: Thưa không.
* Sư phụ: Cái thân đi chậm, cái Biết có đi chậm
không?
- Phật tử: Dạ không.
* Sư phụ: Cái thân chết, cái Biết có chết không?
- Phật tử: Dạ không.
* Sư phụ: Chớ làm sao ông nói nó thay đổi.
- Phật tử: Cái đó có gọi là Chân tâm không ạ?
* Sư phụ: Cái danh từ thôi, bây giờ ông nhận được cái
đó hay không, thì tùy ở ông thôi, Chân tâm hay vọng tâm không thành vấn đề, mà
ông nhận được nó hay không.
- Phật tử: Dạ.
* Sư phụ: Còn bây giờ ông nói tôi đi, tôi chết thì
đây là vọng tâm.
Còn tôi Biết rằng cái xác thân chết, chớ tôi không có
chết, thì cái Biết này, trở về cái Biết thì thành Phật ngay bây giờ, tại đây.
Còn bắt đầu có tôi đi, xác thân tôi đau quá.
- Phật tử: Cái Biết tạm nghĩ như cái nước phải không
Sư?
* Sư phụ: Chỉ nhận nó thôi, đừng có đặt ra tùm lum nữa
mắc công lắm, hén, thì cứ để vậy thôi, cái đó ông phải ngồi thiền cho vững thì
ông nhận lấy hết, ông khỏi hỏi cái gì hết, ông còn hỏi là ông chưa nhận được
nó. Hiểu kịp không? Ông ngồi trên mình trâu mà ông hỏi tôi trâu ở đâu tức là
ông không bao giờ nhận được con trâu, ông nhận được con trâu là ông không bao
giờ hỏi nữa. Ông hiểu kịp không?
- Phật tử: Dạ.
Phật tử ở lại dùng cơm, ngày mai có rãnh thì xuống
nghe pháp, cô Hạnh ngày mai trả bài hén.
