ĐOẠN KINH QUAN TRỌNG NHẤT TRONG KINH A DI ĐÀ

Kinh văn:

舍利弗。不可以少善根福德因緣.得生彼國。 舍利弗。若有善男子.善女人.說阿彌陀 .執持名號。若一日.若二日.若三日. 四日.若五日.若六日.若七日.一心不亂。其人臨命終時.阿彌陀佛.與諸聖眾.現在其 前。是人終時.心不顛倒.即得往生阿彌陀佛 極樂國土。

Phiên âm:

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phúc đức nhân duyên đắc sinh bỉ quốc. Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân, văn thuyết “A Di Đà Phật”, chấp trì danh hiệu, nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mệnh chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh Chúng hiện tại kỳ tiền; thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sinh, A Di Đà Phật, Cực Lạc quốc độ.

Dịch nghĩa:

Xá Lợi Phất! Chẳng thể lấy ít thiện căn, phúc đức nhân duyên mà được sinh về nước kia (1). Xá Lợi Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân (2) nghe nói “A Di Ðà Phật”, chấp trì danh hiệu (3), hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày (4), nhất tâm bất loạn (5). Đến khi người đó lâm mệnh chung (6), Đức Phật A Di Ðà cùng các Thánh Chúng hiện ra trước người đó; khi người đó mệnh chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Ðà (7).

Chú thích:

(1) Thiện căn, phúc đức nhân duyên: Đoạn Kinh tiếp theo nói đến việc làm thế nào để được sinh về Cực Lạc, nghĩa là việc đó là việc “nhiều thiện căn, phúc đức nhân duyên”. Các bản chú giải tuy nói nhiều ý, nhưng tựu chung là: tâm thiện, tin sâu sắc, nguyện tha thiết, chấp trì danh hiệu A Di Đà Phật cầu vãng sinh về Cực Lạc để thành Phật đạo, là nhiều thiện căn, phúc đức nhân duyên. Đừng hiểu lầm tiêu chuẩn “nhiều thiện căn phúc đức” để được vãng sinh Cực Lạc chỉ là làm nhiều việc thiện.

(2) Thiện nam tử, thiện nữ nhân: người trai lành, người gái lành. Hễ người có lòng lương thiện và tin Phật Pháp là người có thiện căn, nam được gọi là “thiện nam tử”, nữ được gọi là “thiện nữ nhân”.

(3) Chấp trì danh hiệu: nắm giữ danh hiệu. Tâm nhớ kỹ miệng niệm suốt, luôn nhớ luôn niệm bốn chữ Hồng danh “A Di Đà Phật”.

(4) “Hoặc một ngày... hoặc bảy ngày” chỉ là nói đại khái, để định kỳ hạn chuyên tu. Việc niệm Phật là cả đời, từ khi nghe nói “A Di Ðà Phật” liền chấp trì danh hiệu, nhanh thì một niệm, mười niệm hoặc một ngày, hoặc hai ngày... hoặc bảy ngày, chậm thì hoặc bảy tháng, hoặc bảy năm, hoặc bảy mươi năm, cho đến lúc chết “nhất tâm bất loạn” được vãng sinh về Cực Lạc. Rồi ở Cực Lạc vẫn tiếp tục niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng cho đến khi thành Phật.

(5) “Nhất tâm” là chỉ có một tâm niệm Phật, không xen tạp niệm khác; “bất loạn” là lòng không rối loạn, không bị tản mát, không nghĩ đến cảnh khác ngoài cảnh niệm Phật. Đây là điều rất khó thực hiện trong lúc đang sống, người bình thường tâm luôn dao động theo ngoại cảnh, ý niệm suy nghĩ lung tung, chỉ có những bậc thượng thượng căn mới có thể thực hiện được. (Đoạn sau giải thích tiếp).

(6) Khi người sắp chết thường trải qua hấp hối rồi tắt thở, tim ngừng đập, sau đó các Thức (Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt Na) thoát ra dần, thể xác lạnh dần, quãng thời gian này gọi là “lâm chung” (sắp chết). Lúc cuối giai đoạn lâm chung gọi là “lâm mệnh chung” (gần chết), lúc đó Ý Thức đã mất, A Lại Da Thức (Thần Thức) sắp thoát ra, hơi ấm sắp hết. Ngay sau lúc lâm mệnh chung là “mệnh chung” (hoặc chỉ gọi là “chung”, nghĩa là “chết”), Thần Thức thoát ra, thể xác lạnh hẳn, lúc đó mới thật sự là chết. Thời gian mỗi người lâm chung dài ngắn không giống nhau, thông thường diễn ra trong khoảng 8 đến 12 tiếng đồng hồ, có người chỉ vài tiếng, có người kéo dài đến 2 ngày.

(7) Để đạt được “nhất tâm bất loạn trong lúc sống” là điều vô cùng khó, nhưng “nhất tâm bất loạn được vãng sinh” là nói khi lâm mệnh chung, không phải chỉ riêng cho lúc đang sống. Khi lâm mệnh chung, vì Ý Thức là thức chủ đã mất, không còn “chủ nhân ông” chế ngự nên các chủng tử nghiệp từ vô thủy kiếp đến nay thay nhau hiện hành, làm cho “tâm điên đảo”, Thần Thức sẽ theo nghiệp sau cùng tái sinh vào một trong sáu đường luân hồi. Lúc này chỉ nhờ niệm câu “A Di Đà Phật” công đức không thể nghĩ bàn, mà được Phật cùng Thánh Chúng hiện ra trước mặt phóng quang minh từ bi che chở khiến cho “nhất tâm bất loạn” không xảy ra sự việc các chủng tử nghiệp hiện hành, nên “tâm không điên đảo”. Tự lực niệm Phật và Phật lực cứu độ cảm ứng đạo giao, lúc mệnh chung liền theo quang minh của Phật vãng sinh về Cực Lạc. Cho nên, lúc thường ngày cứ thật thà tin sâu, luôn niệm A Di Đà Phật, tha thiết nguyện cầu vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc, đến lúc lâm chung lại được gia đình người thân và Ban Hộ Niệm ở bên cạnh niệm Phật trợ niệm, khiến cho lúc sắp chết trong khi khổ đau nhất vẫn luôn nhớ niệm được câu “A Di Đà Phật”, thì chắc chắn được vãng sinh về Cực Lạc.

Nam Mô A Di Đà Phật!

Đệ tử Học Phật cung kính dịch chú