Đạo hữu nghe được nhiều bài giảng Phật Pháp của Thầy thì rất tốt,
nhưng bên cạnh đó mình nên chọn cho mình một pháp môn Tu để sau này mình được
nhiều lợi ích hơn. Đồng ý là nghe nhiều thì có Trí huệ và Công Đức. Bên cạnh đó
nếu mà chỉ nghe mà không chọn pháp môn tu thì khó có thể giải thoát khỏi sanh tử.
Giống như một miếng bánh rất thơm ngon nếu chỉ ngửi mùi thôi thì mình không biết
vị ngon ngọt thế nào, đến khi mình ngửi và ăn thì mới biết bánh đó thật sự ngon
như thế nào. Cũng vậy, nếu mình chỉ nghe Phật Pháp mà không chọn pháp môn Tu
thì cũng giống như ngửi bánh ngon mà không được ăn vậy. Mình nên có Văn, Tư và
Tu. Nếu chỉ có Văn (tức là nghe Pháp) mà không tu làm sao chứng biết được vị của
Giải Thoát. Hồi đức Phật còn tại thế, có một vị đệ tử là Ngài A Nan, Ngài nghe
Phật nói Pháp tới đâu là Ngài nhớ tới đó. Ngài là thị giả của đức Phật bởi thế
nghe rất nhiều về Phật Pháp. Nhưng khi Phật còn ở trần thế, Ngài vẫn chưa tu giải
thoát cho chính mình, vì Ngài A Nan nghe nhiều mà chưa tinh tấn tu. Đến khi Đức
Phật qua đời, thì Ngài A Nan tinh tấn tu hành sau này mới chứng quả Thánh thoát
khỏi sanh tử luân hồi. Có đệ tử Phật lúc Phật còn tại thế, Ngài nghe Phật giảng
một bài Pháp, sau đó tu liền thời gian sau liền chứng quả vị Thánh trong hiện đời.
Bởi vậy đạo Phật không chủ trương nghe Pháp để giải trí hay nghe chơi cho vui
hay nghe để lấp khoảng thời gian trống. Đạo Phật chủ trương nghe Pháp để có trí
huệ và nương theo pháp môn Tu để tu thoát khỏi sanh tử. Nếu mà chỉ nghe Pháp
không mà không chọn cho mình pháp môn Tu hành thì khó có thể thoát khỏi luân hồi
đau khổ. Theo đạo Phật, được thân người là rất khó, gặp được Chánh Pháp lại
còn khó hơn, gặp Chánh Pháp mà tu theo được Chánh Pháp lại còn rất khó. Đạo hữu
đã được nghe Thầy giảng thì đạo hữu cũng đã có nhiều duyên lành với Phật Pháp từ
nhiều kiếp trước. Nếu mình có duyên lành thì mình nên bắt lấy cơ hội quý báo
này để chọn cho mình pháp môn Tu để giải thoát sanh tử luân hồi. Sanh tử là khổ,
chỉ một đời này mình gặp nhiều điều khổ như sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết
khổ… huống chi nhiều đời nhiều kiếp sanh đi tử lại thì cái khổ phải nói là rất
khổ và rất nhiều. Nếu biết cõi đời này là Khổ, sao mình không tu chẳng lẽ mình
thấy Khổ mà vẫn chui đầu vào, như thấy tối mà đi vào tối. Không phải đạo Phật
nói Khổ để bi quan mà nói Khổ để cho mình thức tỉnh tìm cách giải thoát. Nếu
mình là người có Trí huệ, biết lo cho hạnh phúc đời này và mai sau của mình thì
mình lo tinh tấn tu hành, đừng để cái Chết hay Vô Thường tới, lúc đó đã quá muộn
rồi. Cõi này Vô Thường: thân vô thường (sanh, lão, bệnh, tử), tâm vô thường (buồn,
giận, thương, ghét…) và hoàn cảnh vô thường (thành, trụ, hoại, không). Thân này
rất mỏng manh, nó ví như là bọt biển có thể vỡ bất cứ lúc nào. Người có trí huệ
nên dùng thân giả tạm này như chiếc bè để tu hành qua đến bờ Giải Thoát. Đừng để
cuộc đời mình trôi đi qua theo năm tháng già bệnh chết một cách uổng phí. Như
có Thầy nói, người sống trăm tuổi không biết tu thì không bằng người sống một
ngày mà biết tu. Đúng như vậy, sống trăm tuổi mà chỉ biết ham mê ngũ dục, ăn ngủ
và dục lạc… Đến khi chết không biết đi về đâu hoang mang sợ hãi và khi chết rồi
đi tái sanh lại còn khổ hơn. Sống như thế hiện tại không được an lạc mà tương
lai mờ mịt, sống như thế không có ý nghĩa và lợi ích cho mình. Hiểu cuộc đời này
là vô thường, thân này là giả tạm, luân hồi là đau khổ, cõi này là cõi khổ thì
mình chọn cho mình một pháp môn tu liền ngay lập tức đừng để cái Chết hay Vô
Thường đến trước khi mình bắt đầu tu? Vậy Tu như thế nào và tu theo pháp môn
gì?
Đạo Phật rất hay, hay ở chổ là nói Pháp cho mình có trí huệ và có
duyên lành rồi sau đó mình tỉnh thức và nương theo pháp môn để tu. Pháp môn tu
thì có rất nhiều gồm 84000 pháp môn. Tùy theo căn cơ và hoàn cảnh của chúng
sanh mà chọn pháp môn tu cho phù hợp mỗi cá nhân. Tu đây không có nghĩa là bắt
buộc phải Tụng Kinh, vào chùa cạo đầu. Mình tu tại gia thì mình tu theo khả
năng và hoàn cảnh của mình. Có nhiều pháp môn tu trong đạo Phật. Tùy theo căn
cơ, trình độ, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người mà chọn pháp môn tu cho phù
hợp. Pháp môn mà nhiều người tu (kể cả tại gia và xuất gia) là pháp môn Tịnh Độ
(pháp môn niệm Phật). Sở dĩ pháp môn niệm Phật phổ biến và nhiều người tu vì nó
không giới hạn mình trong một khuôn khổ nhất định nào và dễ tu đạt nhiều lợi
ích. Như tu theo Thiền, mình nên có thời gian và môi trường yên tĩnh. Như pháp
môn niệm Phật, đi, đứng, nằm, ngồi hay làm chuyện gì mình cũng có thể niệm Phật
được. Mục đích và hướng đến của người tu Tịnh Độ là Vãng Sanh Cực Lạc. Muốn
vãng sanh Cực Lạc gồm có 3 điều kiện: Tín, Nguyện và Hạnh. Trong Kinh Phật A Di
Đà, Phật Thích Ca nói: “Từ cõi Sa-bà này hướng về Phương Tây, qua mười vạn ức
cõi Phật, có một thế giới gọi là Cực Lạc, mà cõi ấy có đức Phật hiệu là
A-Di-Đà, hiện nay ngài đang thuyết pháp tại đó.”. Mình nên tin Phật Thích Ca
nói vì Ngài không bao giờ nói dối và Ngài ra giới luật không nói dối cho đệ tử
Ngài cũng như hàng xuất gia và tại gia. Mình chưa có khả năng thấy biết được Thế
Giới Cực Lạc và Phật A Di Đà là giáo chủ cõi Cực Lạc, nhưng qua khả năng thấy
biết của Thích Ca Mâu Ni Phật và Ngài nói lại mình nên tin như thế. Như trước
đây khi không có kính thiên văn, người ta nghĩ chỉ có 1 trái đất này tồn tại,
nhưng sau thời gian nhà khoa học khám phá ra được ngoài trái đất này có rất nhiều
hành tinh khác nhau. Cách đây hơn 2500 năm, đức Phật đã nói có nhiều cõi nước
khác nhau trong vũ trụ này bởi vậy Phật đã nói đúng với khoa học.
Thứ nhất tu theo pháp môn Tịnh Độ phải có Tín. Bất cứ tu theo pháp môn
nào cũng đòi hỏi Tín nếu không tin làm sao tu theo được. Tin vẫn là căn bản thiết
yếu trong hết thảy mọi pháp môn tu. Tin là mẹ đẻ ra tất cả những Công đức. Vậy
người tu Tịnh Độ nên tin những gì: Tin có Phật A Di Đà, tin có cõi Cực Lạc của
Phật A Di Đà, tin Nhân Quả, Tin rằng kiếp sống này ngắn ngủi mạng người như hơi
thở ra vào, tin 48 lời nguyện của Phật A Di Đà là hoàn toàn chân thật
Thứ 2 là phải nên có Nguyện, nếu không có Nguyện làm sao Vãng Sanh Cực
Lạc được. Giống như người đi từ điểm A tới điểm B, nếu người đó nói Tôi muốn đi
tới điểm B mà tâm ý không muốn đi tới điểm B thì không bao giờ tới được. Khi
mình có Nguyện thì Phật A Di Đà có tha tâm thông mới biết mình muốn Vãng Sanh Cực
Lạc thì Ngài mới giúp mình Vãng Sanh được. Mình vẫn còn là phàm phu không có khả
năng vãng sanh được nhưng nhờ có Phật Lực giúp cho mình Vãng Sanh. Đạo hữu nên
Nguyện như thế này: Nam Mô A Di Đà Phật, con tên gì…sanh năm mấy…bao nhiêu tuổi…con
nguyện vãng sanh Cực Lạc sau khi con bỏ thân mạng này. Nguyện nhiều hay ít hoặc
nguyện 1 hay 2 lần cũng được tùy theo mỗi người và Đạo hữu nguyện trong tâm hay
nguyện ra tiếng hay đứng trước hình Phật hay không đứng trước cũng được. Tại
sao mình phải nguyện về Cực Lạc, Cực Lạc là gì? Cực nghĩa là rất, Lạc là vui. Cực
Lạc là rất vui. Trong Kinh Phật A Di Đà có nói đến đoạn “Cớ sao Cõi kia lại gọi
là Cực-lạc? Vì, chúng sinh trong nước ấy không có những sự đau khổ, chỉ hưởng
thụ những sự vui sướng mà thôi, nên gọi là Cực-lạc.”. Vui sướng đây không có
nghĩa là Vui sướng với dục lạc, ngũ dục hay vui tạm bợ của thế gian…Vui sướng
đây là vui được thường nghe Phật Pháp, vui không phiền não, vui không già, bệnh,
chết, vui không đau khổ, vui được bực Thượng Thiện Nhân (Bồ Tát) được ngồi
chung nghe Pháp, vui với Công Đức Trang Nghiêm của Cực Lạc và không có những điều
Khổ và không có những tiếng Khổ và không có những điều ác và những điều vui
khác…Bởi thế nên Nguyện Vãng Sanh Cực Lạc để được nhiều lợi ích cho chính mình.
Thứ 3 là nên có Hạnh tức là trì danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc
“A Di Đà Phật”. Đức Phật đã dạy trì “Nam Mô A Di Đà Phật” trong “Kinh Niệm Phật
Ba La Mật”. Đức Phật đã dạy trì “A Di Đà Phật” trong “Kinh Vô Lượng Thọ” và
“Kinh A Di Đà”. Cách niệm Phật 4 chữ hay 6 chữ cũng đều là Phật dạy. Tùy theo
mình hợp với cách niệm Phật 4 chữ hay 6 chữ. Niệm Phật 4 chữ được lợi là ít chữ
dễ niệm và dễ đạt nhất tâm bất loạn. Khi lâm chung niệm Phật 4 chữ cũng dễ niệm
hơn vì ít chữ. Còn niệm Phật 6 chữ thì 2 chữ “Nam Mô” có nghĩa là quay về. Thầy
dạy niệm Phật 6 chữ không dư hay niệm Phật 4 chữ không thiếu. Người nào quen niệm
Phật 6 chữ thì cứ tiếp tục, còn người nào muốn đổi sang niệm Phật 4 chữ cũng tốt.
Trì “Nam Mô A Di Đà Phật” hay trì “A Di Đà Phật” có nghĩa là gì? Trì
đây có nghĩa là mình nên niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” hay niệm “A Di Đà Phật” nhiều
mỗi ngày tùy theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Niệm Phật có nhiều cách hoặc
niệm Phật ra tiếng, hoặc trì thầm, hoặc lần xâu chuổi hoặc trong tâm… Cách nào
cũng được miễn sao phù hợp với khả năng và hoàn cảnh mỗi người. Đi, đứng, nằm,
ngồi hay làm chuyện gì cũng trì danh hiệu Phật được. Trường hợp vào nhà vệ sinh
thì mình chỉ niệm Phật trong tâm, không nên trì ra tiếng.
Trong Kinh A Di Đà có dạy “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe
nói về Đức Phật A Di Đà, cố gắng chuyên trì danh hiệu Ngài: hoặc một ngày, hoặc
hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy
ngày, nhất tâm chẳng loạn, thì người ấy khi lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà
cùng các bậc Thánh, hiện ra trước người ấy, người ấy trong khi chết tâm không
điên đảo, liền được sinh sang cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà”. Nếu muốn niệm
Phật được sớm Nhất Tâm Chẳng Loạn thì nên niệm Phật không xen tạp nghĩa là sao?
Nghĩa là niệm Phật không nên để vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xen vào tức
là đừng để tâm phân biệt tốt, xấu, phải, quấy, hơn thua, đúng, sai… Chỉ để tâm
tập trung vào câu niệm Phật mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh, niệm Phật với
tâm thanh tịnh thì được phẩm vị Vãng sanh cao. Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật
còn nói “Muốn vãng sanh Cực Lạc chỉ cần trì danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật là đủ”.
Bởi thế mình tu theo pháp môn Tịnh Độ chỉ cần có Tín, Nguyện và trì danh hiệu
“Nam Mô A Di Đà Phật” hay trì “A Di Đà Phật” là đủ.
Theo như Kinh Niệm Phật Ba La Mật có nói “Vãng Sanh Cực Lạc thì không
còn ở địa vị phàm phu thân xác ngũ uẩn nữa” (tức là thoát khỏi sanh tử luân hồi).
Vãng Sanh Cực Lạc mình được rất nhiều lợi ích là chứng được quả vị Bất Thối
Chuyển (không còn thối chuyển ở quả Vị Phật), thọ mạng lâu dài sống rất lâu
(trích trong Kinh A Di Đà), không phiền não, bệnh, già, chẳng những thế mà
không khổ còn hưởng những điều vui, và còn có điều kiện tốt, môi trường và hoàn
cảnh tốt, bạn tốt để tu hành tiến tu lên tới quả vị Thánh. Khi mình tu hành lên
tới quả vị Bồ Tát, nếu mình tu tiếp lên tới quả vị Phật, mình phải trở lại những
Cõi, độ giúp những chúng sanh khác giải thoát. Bồ Tát lấy lợi ích cho chúng
sanh làm sự nghiệp của mình. Bởi thế Bồ Tát muốn thành Phật thì phải độ giúp rất
nhiều chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Đới nghiệp vãng sanh là vãng sanh mang theo nghiệp nghĩa là mặc dù
mình có Nghiệp (Nghiệp Thiện hay Ác) nhưng mình vẫn được vãng sanh. Không có
nghĩa là mình tạo tội hay điều ác mà mình tránh được Quả Báo. Nhân Quả thì đúng
ba đời Quá Khứ, Hiện Tại Và Vị Lai không sai. Mình vãng sanh cõi Cực Lạc thì
không lãnh Quả báo nhưng khi mình ở quả vị Bồ Tát trở lại độ giúp chúng sanh
thoát khổ, lúc đó Quả Báo từ nhiều kiếp trước của mình đến với mình. Lúc đó
mình có năng lực lãnh Quả báo một cách an nhiên, chứ mình không đau khổ lãnh Quả
báo như còn phàm phu. Còn những tập khí: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…Những
tánh xấu đó khi mình Vãng Sanh Cực Lạc mình sẽ tiêu trừ nó lần lần đến diệt đi.
Mình Vãng Sanh Cực Lạc thì mình có nhiều cơ hội điều kiện tốt để diệt trừ đi những
tâm xấu của mình. Nếu nói như thế thì những người ác nếu Vãng Sanh Cực Lạc thì
cõi đó sẽ trở nên phức tạp sao? Không. Người ác nếu mà hồi đầu mà tu theo pháp
môn Tịnh Độ, nếu có Tín Nguyện Hạnh, hoặc trì danh hiệu Phật A Di Đà trước khi
lâm chung đủ 10 niệm. Thì người đó vẫn được vãng sanh nhưng mà ở phẩm vị thấp.
Nếu ở phẩm vị vãng sanh thấp thì hoa sen rất lâu nở và lâu thấy cõi Cực Lạc.
Khi hoa sen nở sẽ thấy được Quán Thế Âm Bồ Tát hay Đại Thế Chí Bồ Tát thuyết
pháp cho chúng sanh đó nghe. Còn những chúng sanh nào mà tội ít, làm lành nhiều,
niệm Phật nhiều thì hoa sen của người đó mau nở và mau thấy được cõi Cực Lạc.
Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ có nói “mỗi câu niệm Phật trừ được 80 ức
kiếp (1 ức bằng 100000) tội sanh tử?” Nam Mô A Di Đà Phật là gì? Nam Mô (nghĩa
là Quy Y) A Di Đà (Vô Lượng Thọ hoặc Vô Lượng Công Đức) Phật (Giác Ngộ). Trì
danh hiệu Phật A Di Đà được rất nhiều Công Đức và trừ được nhiều vọng tưởng.
Trì danh hiệu Phật làm thân, khẩu và ý của mình từ từ trở nên thanh tịnh, như
thế mình hạn chế hoặc không tạo ra Tội và Nghiệp xấu. Và niệm Phật được nhiều lợi
ích khác (muốn biết thêm xin đọc cuốn Kinh Niệm Phật Ba La Mật)
Đặc điểm của Pháp môn niệm Phật là: tự lực và tha lực. Tự lực là tự nỗ
lực chính mình tu hành trì danh hiệu Phật. Còn tha lực nghĩa là nhờ Phật Lực
giúp mình được Vãng Sanh Cực Lạc. Không như pháp môn Thiền, chỉ có tự lực mà
không có tha lực nghĩa là tự khả năng mình tu hành mà không có tha lực.
Đạo hữu nên có công phu niệm Phật mỗi ngày tức là mình nên có thời
khóa biểu niệm Phật, tùy theo khả năng và hoàn cảnh của đạo hữu. Ví dụ như,
sáng dậy sớm đạo hữu niệm Phật 1 tiếng hay 2 tiếng…trước khi đi làm, ăn xong
lên niệm Phật 1 hoặc 2 tiếng….trước khi đi ngủ nên dành thời gian ra niệm Phật
khoảng 1 hay 2 tiếng…Số lần công phu niệm Phật mỗi ngày của đạo hữu có thể hơn
số đó nữa. Tùy theo hoàn cảnh của đạo hữu mà có thời khóa niệm Phật riêng cho
mình như thế nào. Mỗi lần niệm Phật vậy đạo hữu nên ngồi niệm Phật (tốt hơn nằm
niệm Phật) vì làm mình dễ tập trung niệm Phật và làm mình không ngủ gục. Lúc
mình công phu niệm Phật đừng để vọng tưởng suy nghĩ phân biệt xen vào nghĩa là
đừng để tâm phân biệt tốt, xấu, phải, quấy, hơn thua, đúng, sai… Chỉ để tâm tập
trung vào câu niệm Phật mỗi câu rõ ràng, mỗi niệm phân minh. Nếu trong lúc công
phu niệm Phật nếu đạo hữu trì danh hiệu Phật A Di Đà ra tiếng được thì tốt (còn
nếu không được thì niệm Phật thầm ra tiếng hoặc niệm Phật trong tâm…). Vì nếu
niệm Phật ra tiếng sẽ giúp tâm đạo hữu dễ dàng theo tiếng niệm Phật và vọng tưởng,
phân biệt, chấp trước cũng khó phát khởi hơn. Bên cạnh thời khóa niệm Phật
riêng cho mình, đạo hữu đi, đứng, nằm, ngồi hay làm công chuyện gì (không suy
nghĩ)… đạo hữu cũng nên trì danh hiệu Phật.
Còn việc Vãng Sanh Cực Lạc thì có người đã Vãng Sanh hay chưa? Đã có rất
nhiều người đã vãng sanh Cực Lạc, những người tại gia và xuất gia đã vãng sanh
rất nhiều, có những video, tài liệu sách vở, hình ảnh lưu xá lợi, và những vị
Thầy kể lại. Những điều này mình nên tin vì những bằng chứng ghi lại hay kể lại
này đều là Phật tử tại gia hay xuất gia. Phật tử thì không được nói dối cho dù
tại gia hay xuất gia. Có nói có, không nói không, không có thì không nói. Nếu
phạm tội nói dối là phạm vào giới luật của đạo Phật. Một trong những giới luật
căn bản của người Phật tử tại gia hay xuất gia là không được nói dối. Nếu người
này phá giới nói dối, tội người này nặng hơn người không giữ giới. Tức là tội
nói dối cộng thêm với tội phá giới.
Dưới đây là một trường hợp vãng sanh trong gia đình tôi. Tôi tình cờ đọc
được bài viết “CON ĐƯỜNG TU TẮT-PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ” (soạn giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm)
và biết được sự vãng sanh của ông Cố tôi là Trần Phong Sắc đã được ghi lại
trong bài viết này trong phần sự tích vãng sanh ở nước Việt Nam. “Ông Trần
Phong Sắc tại chợ Vũng Gù (bây giờ gọi là Long An). Ông trường chay lúc 10 tuổi
và thờ Tam giáo, Nho, Thích, Đạo. Vào khoảng năm 1920, ông làm giáo học dạy chữ
Nho tại trường tỉnh Long An. Ông xem kinh Đại tạng gần 30 năm mới gặp pháp môn
Tịnh độ. Lúc đó ông trên 50 tuổi và bắt đầu tu theo pháp môn này. Ông có viết
quyển Lão Nhơn Đắc Độ và dịch quyển Tây Quy Trực Chỉ của ông Châu an Sỹ. Cơn
lâm chung, ông biết trước ngày về Tây phương, do đó ông có làm bài kệ khuyên
người tu Tịnh độ (xem Tây Quy Trực Chỉ)” (Trích trong “CON ĐƯỜNG TU TẮT-PHÁP
MÔN TỊNH ĐỘ” soạn giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm)
Tôi có nghe người nhà nói nhiều về ông Cố và nói ông Cố có viết quyển
“Lão Nhơn Đắc Độ”. Ông Nội tôi là con của ông Trần Phong Sắc và hiện giờ vẫn
còn sống và đang ở Long An. Hiện giờ, ông bà Nội tôi vẫn tinh tấn tu theo Pháp
Môn Tịnh Độ và đã tu được mấy chục năm rồi. Tôi nói đây không phải là khoe
khoang, mà xác nhận việc vãng sanh của ông Cố tôi là sự thật và đúng như bài viết
“CON ĐƯỜNG TU TẮT-PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ”. Đây là một trong những bằng chứng trong
nhiều trường hợp vãng sanh là có thật. Đạo hữu nên tin những gì tôi nói trên.
Tôi cũng là Phật tử tại gia, thọ trì 5 giới cấm (trong đó có giới cấm không nói
dối, bởi thế tôi không được nói dối). Vãng sanh Cực Lạc là có thật, rất nhiều
chúng sanh đã vãng sanh Cực Lạc được ghi lại. Tôi tu theo pháp môn Tịnh Độ nhiều
năm và tôi đã có Tín, Nguyện và trì danh hiệu Phật A Di Đà cũng được nhiều năm
rồi. Đạo hữu nên tu theo pháp môn Tịnh Độ, có Tín (nghĩa là lòng tin chân thật,
tha thiết, bền vững), Nguyện tha thiết, Hạnh (nghĩa là chỉ cần chuyên nhất xưng
niệm danh hiệu “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” hay “A DI ĐÀ PHẬT” nhiều mỗi ngày và giữ
trọn đời không thay đổi). Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối
liền nhau, thì đạo hữu chắc chắn vãng sanh Cực Lạc của Phật A Di Đà sau khi bỏ
thân này. Vãng Sanh Cực Lạc tức là đạo hữu thoát khỏi sanh tử luân hồi đau khổ.
Khi mình tu theo pháp môn niệm Phật, khi cái chết đến với mình mình
không hoang mang, lo sợ hay đau khổ vì mình biết hướng đi của mình, mình biết sẽ
về đâu vì có sự giúp đỡ và sự tiếp dẫn của Phật A Di Đà để giúp mình Vãng sanh
Cực Lạc thì mình không còn gì phải lo sợ. Còn nếu mình không biết tu, khi cái
chết đến mình rất hoang mang, đau khổ, hoặc mình thấy những oan hồn oan gia
trái chủ đến đòi nợ, và mình thấy những tội ác mình làm trước và thấy những cảnh
ghê sợ hiện đến và sự đau đớn của thể xác sắp tan rã trong nội tạng. Sau khi chết
mình bị Nghiệp (5) (là hành động tạo tác của thân, khẩu và ý) dẫn đi luân hồi
sanh tử, và thần thức không biết sẽ tái sanh đi đâu và không biết có vào tam ác
đạo (địa ngục, ngạ Quỷ và súc sinh) hay không. Mình không định hướng cho mình
đi tái sanh, chỉ có Nghiệp Thiện và Nghiệp Ác của mình quyết định hướng tái
sanh cho mình. Có 4 Nghiệp sẽ tác động đến khi luân hồi là: Cận Tử Nghiệp (Nghiệp
trước giờ lâm chung, nghiệp xấu như giận dữ …), Cực Trọng Nghiệp (Nghiệp rất nặng:
như giết cha mẹ…), Tập Quán Nghiệp (nghiệp tốt hay xấu mình làm thường trong
khi còn sống), và Tích Lũy Nghiệp (Nghiệp nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ).
Thầy có nói là mình là chủ nhân của Nghiệp và mình cũng chính là thừa tự của
Nghiệp. Mình tạo Nhân gì thì mình gặt Quả đó không trốn chạy đi được. Mình tạo
Nhân tốt, được Quả tốt, mình tạo Nhân xấu, được Quả xấu. Như Phật nói khi Quả đến
cho dù mình có chui vào hang, trốn trong lòng đất cũng không thoát khỏi cái Quả.
Nhân Quả là đúng ba đời (Quá Khứ, Hiện Tại và Vị Lai). Bởi thế khi sắp lâm
chung Nghiệp sẽ quyết định ta luân hồi vào cõi tốt hay xấu. Bởi thế sanh tử
luân hồi là rất nguy hiểm và đau khổ. Bởi thế lúc còn sống mình nên tạo Thường
Nghiệp tốt như trì danh hiệu Phật là một ví dụ để trước khi chết mình có Cận Tử
Nghiệp là vẫn niệm Phật thì khi lâm chung mình chắc chắn vãng sanh Cực Lạc. Khi
còn sống nếu không tạo Thường Nghiệp tốt tức là không trì danh hiệu Phật, trước
khi lâm chung rất khó khăn niệm Phật. Mặc dù biết rằng trước khi lâm chung trì danh
hiệu Phật A Di Đà mười niệm vẫn được Vãng Sanh Cực Lạc (trích trong Kinh Quán
Vô Lượng Thọ), nhưng rất là khó vì có người khi lâm chung bị nhiều thứ chi phối
(như thân thể đau đớn, tâm sợ hãi lo sợ, hình ảnh xấu hiện trong tâm, hoặc thấy
oan gia trái chủ…) rất khó mà trì danh hiệu Phật đến mười niệm. Mình còn sống
thì nên chuẩn bị Thường Nghiệp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” hoặc “A Di
Đà Phật” cho nhiều để mình tạo thói quen và tạo cái Lực thật mạnh, để khi lâm
chung thói quen niệm Phật đó sẽ giúp mình nhớ đến niệm Phật và cái Lực sẽ tác động
mình trì danh hiệu Phật một cách dễ dàng.
Đạo hữu nên tin những gì tôi nói trên. Tôi cũng là Phật tử tại gia và
tu theo pháp môn Tịnh Độ nhiều năm và tôi đã có Tín, Nguyện và trì danh hiệu Phật
A Di Đà cũng được nhiều năm rồi. Tôi không nói dối gì cả, tôi đọc nhiều Kinh Phật,
sách Phật Pháp cũng như xem nhiều tài liệu Kinh Phật về pháp môn Tịnh Độ, và
qua đó nghe nhiều bài giảng của Thầy về Phật Pháp và pháp môn Tịnh Độ. Nếu đạo
hữu muốn tìm hiểu thêm về pháp môn Tịnh Độ cũng như tìm hiểu thêm về Công Đức
Trang Nghiêm của cõi Cực Lạc, 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, nói Tín, Nguyện
và Hạnh, hay tả về cõi Cực Lạc rất đẹp và vi diệu như thế nào thì có thể tìm đọc:
Kinh Niệm Phật Ba La Mật, Kinh A Di Đà, Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Vô Lượng
Thọ Phật. Đó là 4 Kinh Phật chính nói về pháp môn Tịnh Độ (hay pháp môn niệm Phật)
qua đó có thể tham khảo thêm. Hoặc có thể nghe những bài giảng của Thầy về Pháp
môn Tịnh Độ và xem đĩa của những người vãng sanh hoặc đọc sách của Cư Sĩ Tịnh Hải
biên soạn (có nhiều hình ảnh lưu xá lợi của những người đã vãng sanh và có những
câu chuyện thật của những người vãng sanh).
Tôi viết những điều này cũng mong rằng đạo hữu tu theo pháp môn Tịnh Độ
liền, đừng để những nghi ngờ, hay những chướng duyên nào đó hay bị cuộc sống
mình cản ngăn. Đừng để tâm mình biện minh, tại này tại nọ hay hẹn này hẹn nọ
hay lý do này lý do nọ là tôi không tu được theo pháp môn niệm Phật. Chẳng lẽ
mình đi theo những nghi ngờ này nghi ngờ nọ hay lý lẽ này lý lẽ nọ hay lý do
này lý do nọ mà đánh đổi cơ hội quý báo thoát khỏi sanh tử luân hồi đau khổ này
sao. Như thế không đáng chút nào. Pháp môn này rất dễ tu ai ai tu cũng được.
Đi, đứng, nằm, ngồi hay làm công chuyện mình vẫn có thể niệm Phật được hoặc là
niệm Phật ra tiếng, hay niệm Phật thầm hay niệm Phật trong tâm cách nào cũng tốt…Đạo
hữu nên bắt đầu ngay từ bây giờ, đừng đợi thời gian sau làm. Mình đâu biết cái
chết có thể đến với mình một giờ sau hay qua ngày mai đâu…Cái chết không biết đến
với mình bất cứ lúc nào, không biết sống nay chết mai, và nó không phân biệt
khoẻ mạnh, ốm đau, già trẻ, lớn bé, nam hay nữ…Bởi thế, giờ còn sống ngày nào
nên tu theo pháp môn Tịnh Độ: có Tín, Nguyện và Hạnh đầy đủ là chắc chắn được
vãng sanh Cực Lạc. Mình đừng nên để lý lẽ lý luận làm chướng ngại cho đường tu
hành của mình. Tu theo pháp môn Tịnh Độ là lợi ích cho mình và lợi ích cho nhiều
chúng sanh khác hiện tại và sau này nữa. Nếu mình vãng sanh Cực Lạc sau khi bỏ
thân mạng này, mình về cõi Cực Lạc tinh tấn tu hành, sau này trở thành Bồ Tát,
trở lại sớm độ giúp nhiều chúng sanh thoát luân hồi và tu hành thành Phật. Tất
cả mọi thứ điều Vô Thường, Thân Vô Thường, Tâm cũng Vô Thường, Hoàn cảnh cũng
Vô Thường, vui buồn, mừng giận, thương ghét, thành bại, khổ đau, vui sướng…những
điều này cũng bị luật Vô Thường chi phối những tâm trạng đó có rồi mất không
thường còn với mình. Mình chết là sẽ bỏ lại tất cả những tài sản của cải vật chất,
người thân, thân mạng mình và những Tâm vui buồn… Mình chỉ mang đi cái Nghiệp
Thiện và Ác của mình tạo ra. Nếu mình có tạo nghiệp Thiện, nếu có sanh về cõi
trời đi nữa, khi hưởng phước đã hết thì vẫn luân hồi và vẫn đau khổ trở lại.
Chi bằng, nay mình biết pháp môn Tịnh Độ, nương theo Tín, Nguyện, và Hạnh mà tu
thì mình thoát khỏi sanh tử luân hồi một cách dễ dàng nhờ Nguyện Lực, Tha Lực
và Lòng Đại Từ Đại Bi của Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc. Đã có nhiều
người đã vãng sanh, đừng để mình là một trong những người không được vãng sanh
thế thì rất tiếc. Đừng để mình tụt lại phía sau những chúng sanh khác. Đừng để
mình phải tiếp tục chịu khổ trong luân hồi và trong khi đó nhiều chúng sanh đã
vãng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi hết đau khổ. Những người có trí huệ thấy
khổ người ta tìm cách thoát khổ, chứ không phải thấy khổ mà vẫn vui trong khổ,
đó là si mê. Mình nên nương theo người trí huệ đừng nương theo người si mê để rồi
phải chịu nhiều đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác từ đời này sang đời khác.
Mình nên tu theo pháp môn Tịnh Độ để đặt dấu chấm hết cho sự luân hồi đau khổ
cho chính mình và ráng tu theo pháp môn Tịnh Độ để kiếp sống này là kiếp cuối
cùng của mình trong sanh tử luân hồi. Già, trẻ, nam, nữ, khỏe mạnh, người tốt,
người xấu, người bệnh, ngu si, thông minh gì…cũng tu được pháp môn niệm Phật
này, chủ yếu mình có tu hay không thôi. Nếu mình có Tín Nguyện Hạnh đầy đủ thì
Phật A Di Đà chắc chắn giúp mình vãng sanh Cực Lạc và Ngài không bỏ sót bất cứ
chúng sanh nào cả không luận người đó ở địa vị gì, hoàn cảnh thế nào, thân thế
ra sao, tốt hay xấu…miễn tu theo pháp môn niệm Phật thì Ngài sẽ giúp cho vãng
sanh Cực Lạc chắc chắn là thế.
Mình tu theo pháp môn Tịnh Độ và trì danh hiệu Phật A Di Đà là mình có
rất nhiều thiện căn phước đức từ nhiều kiếp trước. Nhiều kiếp trước mình đã
gieo duyên lành nhiều với Phật Pháp, tạo Nhân tốt nhiều và tu hành nhiều. Nên
nay mình tu theo pháp môn Tịnh Độ là Quả thoát khỏi sanh tử luân hồi sau khi bỏ
thân mạng này là điều tất yếu. Bởi thế mình nên nắm lấy Quả tốt này đừng nên
phân vân để rồi Cái Chết đến với mình và mình mất duyên thoát khỏi sanh tử luân
hồi. Đừng nghĩ đợi kiếp sau mình sẽ gặp Phật Pháp rồi mình tu hành thoát khỏi
sanh tử luân hồi sau. Theo đạo Phật, đây là thời Mạt Pháp, sau thời Mạt Pháp
này qua rồi. Phật Pháp bị diệt phải đợi rất rất rất lâu thì Phật mới ra đời. Nếu
mình đánh mất cơ hội tu theo pháp môn Tịnh Độ cuộc đời này, mình sanh tử luân hồi
lại rất là đau khổ và nguy hiểm, cho dù ở cõi Người đi chăng nữa lúc đó ngoại đạo,
những người ác, những cái ác và cái xấu sẽ rất nhiều và lẫy lừng trong xã hội.
Lúc đó không gặp Phật Pháp thì làm sao mình thoát khỏi sanh tử luân hồi tới lúc
đó mình rơi vào Tam Ác đạo là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh rất là dễ.
Nếu có người hỏi tại sao Phật A Di Đà không tiếp dẫn tất cả những
chúng sinh? Phật A Di Đà muốn tiếp dẫn tất cả những chúng sinh, nhưng chúng
sinh đó phải có duyên với Ngài. Không có duyên Ngài không độ giúp được. Nếu người
ta không muốn về mình không bắt ép người ta được, như thế dẫn đến hậu quả không
tốt. Người đó không nguyện vãng sanh Cực Lạc thì làm sao đưa người đó về Cực Lạc
được, họ vẫn còn si mê cho rằng cõi này vui và họ còn tham chấp yêu thích cõi
Khổ này và họ không muốn vãng sanh. Và có người họ không biết pháp môn Tịnh Độ
thì làm sao họ nguyện mà về được. Không phải họ không muốn biết và tu theo pháp
môn Tịnh Độ, mà họ không có duyên lành với Phật Pháp và họ không có thiện căn
phước đức để có duyên gặp pháp môn Tịnh Độ. Bởi thế, mình có duyên gặp được
pháp môn Tịnh Độ này là mình có duyên lành tốt và thiện căn phước đức nhiều.
Nay mình nên tạo duyên với Phật A Di Đà bằng cách tu theo pháp môn Tịnh Độ, có
Tín (nghĩa là lòng tin chân thật, tha thiết, bền vững), Nguyện tha thiết, Hạnh
là trì “Nam Mô A Di Đà Phật” hay “A Di Đà Phật”, suốt cả sáu thời trong ngày và
giữ trọn đời không thay đổi”. “Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp
nối liền nhau, lập tức vào Phổ-đẳng Tam-muội của đức A-Di-Đà được Phật tiếp dẫn
về Tịnh-độ Tây-phương. Vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn luân hồi sanh tử.”
Trích trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật.
Luân hồi sanh tử khổ đauKhổ không sao nói cho hếtKhổ thân rồi đến khổ
tâm. Khổ từ đời này sang đời khácKhổ từ kiếp này sang kiếp khácNgười trí
huệ tìm cách thoát khổKẻ si mê thấy khổ vẫn vui Cực Lạc là dứt luân
hồiCực Lạc rất vui không khổVui không sao nói cho hếtVui thường nghe Pháp Phậtvui
gần Bậc Thượng Thiện NhânVui cảnh Trang Nghiêm Cực LạcVui trong tu hành giải
thoátVui không sanh tử luân hồiVui không sanh, tử, bệnh, giàVui không phiền não
vui thiệt là vuiKhuyên ai gắng sức lo tuTu theo pháp môn Tịnh Độ một đờiVãng
Sanh Cực Lạc thoát khỏi phàm phuTu liền chớ nên đợi chờĐừng để cái chết gần kềHãy
tu liền mau kẻo muộnPháp môn Tịnh Độ dễ lắm ai ơiNgười nào tu cũng được vãng
sanhVãng Sanh Cực Lạc vui chừng biết bao.
Cư Sĩ Thiện Thông
Xin thường niệm Nam Mô A Di Đà Phật
