TƯỢNG CỬU LONG VÀ CÁC BỘ TƯỢNG THỜ LIÊN QUAN

Tòa Cửu Long tức là tòa thờ tượng Đức Phật Thích Ca sơ sinh một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất, xung quanh có chín rồng lượn trong đám mây, có các vị Bồ Tát và chư Thiên tấu nhạc để cúng dàng Đức Phật giáng sinh. Tòa Cửu Long trong các chùa Việt truyền thống ở Bắc Bộ là điển hình sinh động về hình tượng Đức Phật đản sinh. Chư Tổ, nghệ nhân dân gian xưa đã căn cứ vào kinh điển tạo tượng. Mẫu tượng Phật đản sinh phổ biến ở Bắc Bộ là tòa Cửu Long, song có một vài trường hợp đặc biệt là tạc tượng Hoàng hậu Ma Gia sinh hạ Thái tử. Tòa đầu tiên chúng ta vào chùa là thấy cảnh Đức Thế Tôn đản sinh có chín rồng phun nước, Đức Phật Thích Ca ở giữa. Đây là biểu hiện cho người mới bước chân vào Đạo, mới được sinh ra trong giáo pháp.

Hai bên tòa Cửu Long thì có một số cách thờ. Có nơi thờ một bên là pho tượng Đế Thích (vua cõi trời Tam Thập Tam Thiên) và một pho tượng Đại Phạm Thiên Vương (chủ tể của vạn vật theo đạo Bà La Môn) hai vị thần này đều phát nguyện hộ trì Phật pháp nên được thờ ở chùa. Có nơi thì hai bên thay Phạm Thiên, Đế Thích bằng Thổ Địa, Thánh Tăng hoặc Tuyết Sơn, Di Lặc. Tầng trên tòa Cửu Long thờ bộ Ngọc Hoàng - Nam Tào - Bắc Đẩu hoặc Quan Âm… Chúng con xin giới thiệu các bộ tượng phổ biến liên quan đến tòa Cửu Long trong chùa Việt Bắc Bộ là tượng Quan Âm, Tượng Vua Trời (Ngọc Hoàng, Phạm Thiên, Đế Thích), tượng Tuyết Sơn, tượng Di Lặc.

1. Tượng Phật Bà Quan Âm: Quan Âm Chuẩn Đề hoặc Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn hoặc Quan Âm Nam Hải hay được thờ trên chính điện chùa Việt Bắc Bộ. Quan Âm ngồi giữa, phía tay phải nhìn vào là Thiện Tài Đồng Tử, tay trái nhìn vào là Long Nữ Bồ Tát. Nhưng vào thời Mạc, thời Lê về trước cổ hơn nữa là Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Tay phải nhìn vào là thân phụ - tức vua Diệu Trang Vương, tay trái nhìn vào là thân mẫu của Bồ Tát Quan Âm, theo tích Quan Âm Nam Hải.

2. Tượng Vua Trời: Nhà Phật và chính Đức Phật phủ nhận có một vị Thượng đế nào đó toàn năng toàn quyền, sáng tạo ra muôn loài và quyết định số phận của muôn loài. Với nhà Phật niềm tin và sự lệ thuộc, nô lệ vào một vị Thượng đế như thế là mê tín, không có chính kiến. Nhưng nhà Phật lại nói có cõi Trời, các chư Thiên và các vị Vua Cõi Trời - điển hình là đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là vua cõi Trời Đao Lợi - vị Bồ Tát hộ pháp của Phật, Đức Ngọc Hoàng rất thờ kính và phụng sự Đức Phật. Dưới lớp tượng Phật trên Đại Hùng Bảo Điện ở chùa Việt Bắc Bộ vào thời Lê về sau, phần lớn các chùa thêm lớp tượng ở giữa là Ngọc Hoàng, tay phải nhìn vào là Nam Tào, tay trái nhìn vào là Bắc Đẩu. Đây là bộ tượng kết hợp văn hóa Tam giáo đồng nguyên vì thời nhà Lê, Phật giáo không còn là quốc giáo nữa, Nho giáo ở vị trí độc tôn. Chính vì vậy để duy trì được Phật pháp, chư Tổ chúng ta đưa cả Nho giáo, Lão giáo vào chùa, nhưng đây là một điểm khéo léo uyển chuyển của chư Tổ chúng ta, là tinh hoa Phật giáo Việt Nam. Có người nói tại sao Tam giáo đồng nguyên không thờ Khổng Tử. Quan niệm của Nho giáo lấy thiên mệnh Trời nên thờ Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu và được chư Tổ chúng ta giải thích khi Đức Phật ra đời, ngay tại Ấn Độ cũng đã có văn hóa thờ Phạm Thiên. Và chúng ta kết hợp văn hóa Nho giáo ngoài đời với văn hóa Phật giáo là thờ Phạm Thiên và dù có thờ Phạm Thiên đi chăng nữa thì Phạm Thiên cũng là đệ tử Phật, cũng phải quy y Phật trở thành các vị Hộ pháp. Đại Phạm Thiên Vương và Đế Thích Thiên Vương có công thỉnh Phật thuyết pháp, có công thỉnh Phật trụ thế chuyển Pháp Luân. Và cũng là người đầu tiên hầu Đức Phật đản sinh, thành đạo, nhập Niết Bàn nhưng vẫn mang vóc dáng Ngọc Hoàng Đại Đế. Đấy là cái khéo của văn hóa Việt Nam để duy trì đạo Phật trong một thời điểm mà Phật giáo không còn ở vị trí độc tôn. Thờ Vua, chư Tổ có một hàm ý nói rằng người bảo vệ được Phật pháp phải là Quốc Vương. Xưa kia, Đức Phật cũng đã từng phó chúc cho quốc vương đại thần hộ trì Phật pháp. Nếu không dựa vào quốc vương đại thần không thể giúp cho Phật pháp hưng thịnh được. Chúng ta có nội lực, có tăng tài nhưng không được nhà nước bảo hộ thì Phật pháp cũng sớm bị suy vi. Lịch sử đã chứng minh các thời kì Phật pháp hưng thịnh, yếu tố đầu tiên dựa vào chính sách nhà nước.

Quốc vương đại thần xưa hay chính quyền ngày nay khi họ vào chùa họ thấy hình ảnh của mình họ sẽ không phá hoại Phật pháp nữa. Đó là cái trí tuệ của chư Tổ chúng ta. Chư Tổ còn giáo dục Tăng Ni, Phật tử luôn phải ghi nhớ tứ trọng ân là ơn cha mẹ, ơn thầy bạn, ơn Quốc vương (quốc gia xã hội), ơn Tam Bảo. Tín ngưỡng tự do nhờ chính phủ Thiền môn hưng thịnh cậy Tăng - già Vậy dù thờ với ý nghĩa là Vua Trời (Phạm Thiên, Đế Thích, Ngọc Hoàng Thượng Đế) hay vua trong chùa thì đều có ý nghĩa giáo dục tâm biết ơn những người trong bộ máy chính quyền ủng hộ Phật pháp hưng thịnh trong quốc độ.

Nét đặc biệt là có chùa đặt bộ tượng Quan Âm trên Vua Trời, hoặc có chùa giản lược đi chỉ có bộ Vua Trời hoặc chỉ có Phật Bà... Tuy nhiên, ba bộ tượng Cửu Long, Vua Trời, Phật Bà Quan Âm đều mang nhiều tầng ý nghĩa. Nếu theo chiều dọc từ trên xuống là bộ Phật Bà, Vua Trời, Cửu Long thì ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Tứ Phủ của người Việt (Phật Bà Quan Âm ở ngôi cao nhất) và khiến chúng ta liên tưởng đến 3 mốc quan trọng trong cuộc đời Đức Phật: Đản sinh (hình em bé) - cuộc sống cung đình đầy danh vọng, uy quyền, nhung lụa (hình ảnh Ngọc Hoàng Thượng Đế) - từ bỏ thế tục xuất gia tu hành thành Phật, thể nhập chân như (hình ảnh Phật Quan Âm và các vị Phật ở trên). Chúng ta hình dung ra 2 tích truyện kép trong nhà Phật là Quan Âm Diệu Thiện và Phật đản sinh. Công chúa Diệu Thiện vốn là con gái vua Trang Vương, tu hành đắc đạo trở thành Bồ Tát Quan Âm về độ vua cha. Theo tuệ giác Phật giáo thường thì trên tòa Cửu Long hay bày tượng Phật Bà Chuẩn Đề hoặc nghìn mắt nghìn tay để che chở Phật sơ sinh, hàng phục tà ma đến quấy phá

3. Người Việt xưa theo Mẫu hệ nên không đề cao về các tích liên quan đến vua Tịnh Phạn mà họ chỉ hay đề cập đến Bà "Mẫu" nào đó sinh hạ ra Đức Phật, nên bày trên tượng Vua Trời. Tư duy lý luận của họ thường là "người Mẹ luôn che chở cho con cái". Vì thế, trước lúc tắm Phật nên tụng thêm Đại Bi, Thập Chú, Bát Nhã Tâm Kinh, các bài chú liên quan đến Phật Bà Quan Âm hoặc 7, 21 biến Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú cho đủ bộ. Bởi "Lòng tin là mẹ của công đức đưa chúng sinh tiến đạo", trì tụng và tin tưởng chí thành chí kính vào năng lực các bài Thần chú. 

4. Tượng Tuyết Sơn, Di Lặc: Lại có chùa thì thờ hai bên tòa Cửu Long là hai pho tượng Bồ Tát. Một bên là Bồ Tát Di Lặc và một bên là Đức Tuyết Sơn. Bồ Tát Di Lặc là vị Đại Bồ Tát sắp thành Phật và sẽ nối ngôi Đức Thích Ca Mâu Ni làm giáo Chủ cõi Sa Bà này để giáo hóa chúng sinh. Tượng của Ngài bao giờ cũng được tạc hình một vị tăng béo mập ngồi tòa sen, ngực để hở lúc nào cũng cười có vẻ yên vui. Đức Tuyết Sơn tức là hình tượng của Đức Phật Ca khi Ngài tu khổ hạnh 6 năm ở núi Tuyết Sơn. Ngài chỉ ăn mỗi ngày một hạt vừng nên thân thể của Ngài gầy còm chỉ còn da bọc xương. Qua hai pho tượng này với con mắt của người dân quê, người ta cho là Đức Phật Di Lặc béo, cởi trần thì họ gọi là “Ông nhịn mặc để ăn”, còn Đức Phật Tuyết Sơn gầy gò nhưng ăn mặc quần áo đầy đủ thì gọi là “Ông nhịn ăn để mặc”. Tuyết Sơn tay phải, Di Lặc tay trái bởi đây vẫn còn là hai vị Bồ Tát đang tu hành ở ngôi nhất sinh bổ xứ. Hệ thống tượng như thế được chư Tổ giải thích như sau: Tòa đầu tiên chúng ta vào chùa là thấy cảnh Đức Thế Tôn đản sinh có chín rồng phun nước, Đức Phật sơ sinh đứng giữa cũng là biểu hiện cho người mới bước chân vào Đạo, mới được sinh ra… trong giáo pháp. Tu hai hạnh khắc kỷ và khoan nhân. Hình tượng Tuyết Sơn tu khổ hạnh sáu năm đối với bản thân phải khắc khổ, thiểu dục, tiết kiệm, khổ hạnh; hình tượng Di Lặc đối với người phải khoan dung rộng lượng. Đối với các bậc tu hành từ xưa đến nay phương châm khắc kỷ khoan nhân là nền tảng căn bản vào đạo.

5. Tượng Thổ Địa, Thánh Tăng: Có nhiều chùa thay vị trí hai vị Phạm Thiên, Đế Thích hai bên tòa Cửu Long bằng tượng Thổ Địa, Thánh Tăng. Tượng Thổ Địa thường ở bên phải nhìn vào với hình dáng một cụ già đẹp lão, râu tóc bạc phơ, cai quản đất đai, an Tăng hộ Pháp. Trong tâm thức người Việt quan niệm “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Tượng Thánh Tăng có hình dáng như một chú tiểu nhà chùa, đại diện cho hàng xuất gia Tăng, Ni đạo hạnh chân tu đi khắp mọi nơi hoằng dương Phật pháp cho chúng sinh nhân loại. Người tu sĩ hoằng dương Phật pháp, người cư sĩ hộ trì Phật pháp. Như vậy, trên chính điện chùa Việt hiện diện cả Phật, Bồ Tát và các vị Thánh Tam Phủ (Vua Trời, Thổ Địa, Long Vương) gửi gắm mong ước mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa, nhân khang vật thịnh của cư dân nông nghiệp.

ST