TẢN MẠN CHUYỆN CÚNG TÁO QUÂN, 12 CON GIÁP, LỄ CẦU AN ĐẦU XUÂN VÀ KINH SÁCH NHÀ PHẬT

1. Cúng Táo Quân

Trong Kinh Dược Sư, Bồ Tát Cứu Thoát có bạch với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: "Những loài hữu tình, người nào cũng có một thần Câu Sinh. Người ấy làm gì, tội hay là phúc, thần đều chép đủ rồi đem trình hết cho vua Diêm Ma. Bấy giờ vua liền xét hỏi người ấy tính toán mọi việc người ấy đã làm, theo chỗ tội phúc ấy mà xử đoán" (Kinh Dược Sư, sư cụ Tuệ Nhuận dịch). Cũng trong bản Kinh ấy, Bồ Tát Cứu Thoát nói với Tôn giả A Nan và đại chúng trong Pháp hội Dược Sư rằng: "Lại còn đây nữa này ông A Nan! Vua Diêm Ma kia chủ lĩnh giữ sổ ghi tên thế gian. Nếu những hữu tình phạm những tội như bất hiếu, ngũ nghịch, phá nhục Tam Bảo, hoại pháp vua quan, hủy cả tín giới thì vua Diêm Ma tùy tội nặng nhẹ xét mà xử phạt. Vì thế ta nay khuyên những hữu tình THẮP ĐÈN, TREO PHƯỚN, PHÓNG SINH, TU PHÚC cho thoát khổ ách chẳng gặp tai nạn".Vậy việc Cúng Táo Quân ngày 23 tháng Chạp của người Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở theo kinh sách nhà Phật. Phật và các vị Thánh Hiền luôn răn dạy về việc tội phúc báo ứng, khuyên đại chúng làm lành lánh ác.

2. Bộ Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng trong Đàn Dược Sư Thất Châu

Mười hai đại tướng Dược Xoa

Tuyên truyền giúp Phật để mà độ sinh.

Chỉ ngũ sắc kết nên danh

Cầu nguyện vạn sự ắt thành chu viên.

Rửa sạch mọi nỗi oan khiên

Khang ninh phúc thọ, nhân duyên vẹn tròn.

Dược Xoa Thập Nhị Thần Tướng ( ) nghĩa là 12 vị tướng thần Dược Xoa (cũng gọi là Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng, Thập Nhị Thần Vương, Thập Nhị Thần Tướng) là:

Cung Tỳ La – còn gọi là Kim-tỳ-la, dịch ý là Cực Úy.

Phạt Chiết La – còn gọi là Bạt-chiết-la, Hòa-kỳ-la, dịch ý là Kim Cang.

Mê Súy La – còn gọi là Di-khứ-la, dịch ý là Chấp Nghiêm.An Đế La – còn gọi là Át-nể-la, An-nại-la, An-đà-la, dịch ý là Chấp Tinh.

Át Nể La – còn gọi là Mạt-nể-la, Ma-ni-la, dịch ý là Chấp Phong.

San Để La – còn gọi là Bà-nể-la, Tố-lam-la, dịch ý là Cư Ngoại.

Nhân Đạt La – còn gọi là Nhân-đà-la, dịch ý là Chấp Lực.Ba Di La – còn gọi là Bà-da-la, dịch ý là Chấp Ẩm.

Ma Hổ La – còn gọi là Bạc-hô-la, Ma-hưu-la, dịch ý là Chấp Ngôn.

Chân Đạt La – còn gọi là Châu-đổ-la, Chiếu-đầu-la, dịch ý là Chấp Tưởng.

Chiêu Đổ La – còn gọi là Chu-đổ-la, Chiếu-đầu-la, dịch ý là Chấp Động.

Tỳ Yết La – còn gọi là Tỳ-già-la, dịch ý là Viên Tác.

Các Thần Tướng Dược Xoa có thệ nguyện rất sâu rộng để hộ trì Phật Pháp.

Theo Kinh Dược Sư: 12 vị Dược Xoa lên tiếng bạch Phật rằng:“Lạy Đức Thế Tôn, chúng con ngày nay nhờ uy lực Phật được nghe danh hiệu Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chẳng còn có sợ nơi ác thú, chúng con bảo nhau đều cùng một lòng quy Phật, Pháp, Tăng cho đến hết đời thề xin gánh vác hết thảy hữu tình, làm việc nghĩa lợi, nhiêu ích, yên vui; bất cứ chỗ nào: trong các thôn quê, thành thị, làng nước; rừng cây vắng lặng, mà có kinh này ban phát đến nơi, rồi có người nào thụ trì danh hiệu Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cung kính cúng dàng, quyến thuộc chúng con hộ vệ người ấy khiến cho giải thoát hết thảy khổ nạn, có cầu nguyện gì đều được đủ cả; hoặc có ai cầu thoát khỏi bệnh tật, ách nạn cũng nên đọc tụng kinh này, lấy chỉ ngũ sắc mà kết thành chữ tên của chúng con, được như nguyện rồi, sau hãy cởi ra”.

Mỗi vị Thần Tướng thống lĩnh 7.000 Dược Xoa, tổng cộng là 84.000 vị Thần hộ pháp.12 vị Thần Tướng Dược Xoa cũng được cho là điều khiển 84.000 lỗ chân lông của da trong việc bảo vệ sức khỏe cho những chúng sanh tín kính, trì niệm danh hiệu, cúng dàng và tu tập theo Đức Phật Dược Sư.

Thần Tướng Dược Xoa là quyến thuộc của Đức Phật Dược Sư. Đó là 12 vị Dược Xoa có thệ nguyện ủng hộ và bảo vệ những người trì tụng kinh Dược Sư, theo bản địa thì:

* Cung-tỳ-la lấy Bồ-tát Di Lặc làm bản địa.

* Phạt-chiết-la lấy Bồ-tát Đại Thế Chí làm bản địa.

* Mê-Súy-la lấy Phật A Di Đà làm bản địa.

* An-để-la lấy Bồ-tát Quán Thế Âm làm bản địa.

* Át-nhĩ-la lấy Bồ-tát Ma Lợi Chi làm bản địa.

* San-để-la lấy Bồ-tát Hư Không Tạng làm bản địa.

* Nhân-đạt-la lấy Bồ-tát Địa Tạng làm bản địa.

* Ba-di-la lấy Bồ-tát Văn Thù làm bản địa.

* Ma-hổ-la lấy Phật Dược Sư làm bản địa.

* Chân-đạt-la lấy Bồ-tát Phổ Hiền làm bản địa.

* Chiêu-độ-la lấy Bồ-tát Kim Cương Thủ làm bản địa.

* Tỳ-yết-la lấy Phật Thích Ca Mâu Ni làm bản địa.

12 vị Thần Tướng này 12 giờ trong ban ngày; 12 giờ trong ban đêm, 12 tháng trong 4 mùa thay phiên nhau gìn giữ, hộ trì chúng sinh. Nếu phối hợp 12 Thần Tướng với 12 địa chi ngược lên thì:

* Cung-tỳ-la thuộc Hợi.

* Phạt-chiết-la thuộc Tuất.

* Mê-Súy-la thuộc Dậu.

* An-đề-la thuộc Thân

* Át-nhĩ-la thuộc Mùi.

* San-đề-la thuộc Ngọ.

* Nhân-đạt-la thuộc Tỵ.

* Ba-di-la thuộc Thìn.

* Ma-hổ-la thuộc Mão (Mẹo).

* Chân-đạt-la thuộc Dần.

* Chiêu-độ-la thuộc Sửu.

* Tỳ-yết-la thuộc Tý.

3. Lễ cầu an

Đạo Phật du nhập vào Việt Nam hơn 2000 năm, đã hòa quyện vào văn hóa, tín ngưỡng dân tộc như nước với sữa, như răng với môi (xem nghi thức và sớ cúng sao này thì thấy rất rõ). Bản chất của đạo Phật thì không có Phật giáo Bắc Trung Nam. Nhưng do phong tục, tập quán mỗi miền của nước ta mỗi khác nhau nên bản sắc nghi lễ Phật giáo mỗi miền cũng mỗi khác nhau. Đây là điểm đặc trưng của văn hóa Phật giáo Việt Nam.Đầu xuân đi lễ chùa cầu quốc thái, dân an từ lâu đã trở thành một sinh hoạt tính ngưỡng của người dân Việt Nam, trong đó có lễ dâng sao giải hạn, cầu tiêu tai giải nạn.

Mục đích của lễ nguyện cầu quốc thái dân an trong đạo Phật và lễ cúng sao giải hạn trong tín ngưỡng dân gian chung quy cũng chỉ là cầu sự an lành và hạnh phúc cho tự thân, gia đình và đất nước. Cho nên, bản chất của các khoa nghi cầu nguyện này không xấu, chỉ những kẻ lạm dụng nó để trục lợi cá nhân là xấu, là đáng chỉ trích.

Trong Kinh Dược Sư Phật dạy: “Này ông A Nan, lại còn như khi các vua Quán Đỉnh và Sát Đế Lợi, tai nạn khởi lên như là những nạn: NHÂN DÂN TẬT DỊCH, NƯỚC KHÁC LẤN BỨC, TRONG NƯỚC PHẢN NGHỊCH, SAO LẠ MỌC RA, NHẬT THỰC, NGUYỆT THỰC, MƯA GIÓ TRÁI MÙA, ĐẾN MÙA CHẲNG MƯA, các vua Quán Đỉnh và Sát Đế Lợi, bấy giờ đối với hết thảy hữu tình, khởi tâm từ bi, tha những tù tội, theo phép cúng dàng trước đã nói kia, CUNG KÍNH CÚNG DÀNG ĐỨC THẾ TÔN DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI, nhờ thiện căn ấy và sức bản nguyện của Như Lai kia, khiến cho cả nước liền được yên ổn, mưa gió thuận thời, lúa cấy được mùa, hết thảy hữu tình, vô bệnh mừng vui, ở trong nước ấy, không có những Thần bạo ác Dược Xoa, não hại hữu tình, những hình tướng ác, thảy đều biến mất; các vua Quán Đỉnh, và Sát Đế Lợi, sống lâu, mạnh khỏe, vô bệnh, tự tại, lợi ích đều tăng.Này ông A Nan, nếu các Hoàng Hậu, Hoàng Phi Công Chúa, Thái Tử, Vương Tử, Đại Thần, Tể Tướng, Thể Nữ trong cung, các quan và dân, có mắc bệnh khổ và ách nạn gì, cũng nên DỰNG CÂY PHƯỚN THẦN NĂM SẮC, THẮP ĐÈN TIẾP SÁNG, PHÓNG SINH CÁC LOẠI, RẢI CÁC THỨ HOA, ĐỐT CÁC HƯƠNG THƠM, bệnh được khỏi hết, nạn đều giải thoát”.

-ST-