Thiền, nói cho đủ là thiền-na (tiếng Phạn là Dhyāna)
là phần thực tập nòng cốt của đạo Bụt.
Thiền có mục đích giúp người hành giả đạt tới một cái
thấy sâu sắc về thực tại. Cái thấy này có khả năng giải phóng cho mình ra khỏi
sự sợ hãi, lo âu, phiền muộn; có khả năng chế tác chất liệu trí tuệ và từ bi,
nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều thảnh
thơi và an lạc.
Bản chất của thiền là niệm, định và tuệ, ba nguồn
năng lượng được chế tác trong khi thực tập thiền. Thực tập thiền không phải chỉ
trong tư thế ngồi (thiền ngồi, tiếng Hán Việt: tọa thiền) mà còn trong các tư thế
khác như tư thế đi (thiền di, tiếng Hán Việt: hành thiền), tư thế đứng, tư thế
nằm, trong những lúc làm việc như giặt áo, bổ củi, gánh nước, tưới rau hoặc lái
xe. Bất cứ trong tư thế nào, bất cứ đang làm gì và ở đâu mà trong thân tâm mình
có được ba loại năng lượng ấy là mình đang thực tập thiền. Sự thực tập này, nếu
được chỉ dẫn đúng mức, có thể đem lại sự thoải mái và an lạc ngay trong lúc thực
tập.
Thực tập thiền có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu cho
cả thân và tâm, đem lại nguồn vui sống cho người thực tập và cho những người
xung quanh. Không phải chỉ đi vào chùa hoặc thiền viện mới thực tập được thiền.
Sống trong xã hội, đi làm, chăm sóc gia đình, ta cũng có thể tập thiền được.
Vài hiểu biết
căn bản về thiền và tri liệu - Niệm
Niệm là nguồn năng lượng giúp ta ý thức được những gì
đang xảy ra trong giây phút hiện tại trong thân, tâm và trong hoàn cảnh của ta.
Tiếng Phạn, niệm là smrti. Nói cho đầy đủ là chánh niệm (samyaksmrti).
Những điều đang xảy ra trong giờ phút hiện tại trong
lĩnh vực thân, tâm và hoàn cảnh thì nhiều lắm, ta không thể nhận diện được tất
cả một lượt. Nhưng ta có thể nhận diện những gì những gì nổi bật nhất, hoặc nhận
diện những gì mà ta cần nhận diện nhất. Nếu ta để ý tới hơi thở vào và hơi thở
ra và nhận diện được đấy là hơi thở vào hoặc hơi thở ra, đó gọi là phép niệm
hơi thở. Nếu ta để ý tới bước chân và nhận diện được từng bước chân ta đặt lên
sàn nhà hoặc mặt đất, đó gọi là phép niệm bước chân. Ta có thể gọi đó là chánh
niệm về hơi thở hoặc chánh niệm về bước chân. Niệm bao giờ cũng là niệm một cái
gì, nghĩa là niệm luôn luôn có đối tượng của niệm. Nếu đang giận mà ta có ý thức
được là ta đang giận, đó gọi là niệm cơn giận. Trong lúc ta thực tập như thế,
có hai loại năng lượng đang biểu hiện trong ta: năng lượng đầu là cái giận,
năng lượng thứ hai là chánh niệm do ta chế tác bằng bước chân hoặc bằng hơi thở
chánh niệm. Năng lượng thứ hai nhận diện và ôm ấp năng lượng thứ nhất. Nếu sự
thực tập kéo dài năm bảy phút thì năng lượng chánh niệm sẽ đi vào trong năng lượng
giận hờn, và sẽ có sự thuyên giảm và chuyển hóa.
Năng lượng niệm mang theo nó năng lượng định (chú
tâm) và năng lượng này có thể làm phát sinh năng lượng tuệ (tuệ giác) có thể
chuyển hóa được cơn giận thành năng lượng của hiểu biết, chấp nhận, xót thương
và hòa giải.
Trong đời sống hàng ngày tâm ta thường có khuynh hướng
nhớ tưởng về quá khứ hoặc lo lắng cho tương lai. Thân ta có mặt nhưng tâm ta
không có mặt. Chánh niệm là năng lượng giúp ta đưa tâm về lại với thân để ta có
mặt đích thực trong giờ phút hiện tại. Có mặt như thế để có thể tiếp xúc với những
nhiệm mầu của sự sống trong ta và chung quanh ta. Theo tinh thần thiền, sự sống
chỉ có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: “Quá khứ đã qua, tương
lai chưa tới, sự sống chỉ có thể được tiếp xúc trong giây phút hiện tại” (Kinh
Bhaddekaratta, Trung Bộ 131). Tiếp xúc được với những gì nhiệm mầu có mặt trong
giây phút hiện tại là để được nuôi dưỡng và trị liệu. Nếu năng lượng chánh niệm
đã trở nên vững vàng, ta có thể sử dụng nó để nhận diện và ôm ấp những nỗi khổ
niềm đau của ta (như giận thù, tuyệt vọng, tham đắm, bạo động, ghen tuông,
v.v…) để có thể chuyển hóa chúng từ từ. An trú được trong hiện tại có thể đưa đến
sự trị liệu mầu nhiệm: Một lần an trú được trong hiện tại là ta có thể vượt
thoát ra ngoài những nanh vuốt của sự tiếc thương và vương vấn về quá khứ hoặc
những lo lắng và sợ hãi về tương lai. Những năng lượng tiêu cực thường đưa tới
các chứng bệnh tâm thần.
Có bốn lĩnh vực làm đối tượng cho sự tu tập chánh niệm;
thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý (danh từ chuyên môn là thân, thọ,
tâm, và pháp, gọi chung là Tứ niệm xứ) (Kinh Niệm Xứ, Trung A Hàm 98).
Năng lượng chánh niệm khi nhận diện thân thể (body)
giúp ta trở về thân thể với niềm ưu ái: Trong khi theo dõi phép quán niệm hơi
thở ta chiếu cố tới thân thể ta, giúp cho thân thể được buông thư (danh từ
chuyên môn: an tịnh thân hành). Phép thực tập này rất hữu hiệu để đối phó với sự
căng thẳng của thần kinh và của cơ thể (stress). Ta có thể thực tập phép an tịnh
thân hành trong tư thế nằm cũng như tư thế ngồi. Sự thực tập này giúp cho cơ thể
của chúng ta tự trị liệu một cách tự nhiên mà không cần thuốc thang (Kinh Quán
Niệm Hơi Thở, Trung Bô, 118). Trong trường hợp ta đang chữa trị bằng thuốc men
thì phép an tịnh thân hành này có thể giúp cho ta bình phục mau chóng hơn, ít
nhất là ba lần.
Thực tập phép niệm thân ta cũng sẽ biết ăn uống và
tiêu thụ trong chánh niệm để đừng đưa vào cơ thể những thức ăn, thức uống có độc
tố gây nên tật bệnh. Thực tập niệm thân còn giúp ta đi, đứng, hành xử và làm việc
một cách thảnh thơi và nâng cao phẩm chất của sự sống hàng ngày.
Sự thực tập chánh niệm hướng về cảm thọ (feelings)
giúp ta nhận diện những cảm thọ đang có mặt: Cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ
khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ trung tính (xả thọ). Nếu đó là một cảm thọ dễ chịu,
ta biết được là cảm thọ đó phát xuất từ đâu và sẽ có tác dụng lâu dài như thế
nào vào thân tâm, tác dụng nuôi dưỡng hoặc tàn phá. Nếu đó là một cảm thọ khó
chịu, ta cũng biết được là nó đã phát xuất từ đâu, và năng lượng chánh niệm sẽ
làm dịu lại cảm thọ đó, và cuối cùng với năng lượng định và tuệ ta có thể chuyển
hóa nó. Nếu cảm thọ ấy là trung tính thì với chánh niệm nó sẽ trở thành một cảm
thọ dễ chịu. Ví dụ: Khi nhức răng, ta có khổ thọ. Ta nghĩ nếu hết nhức răng ta sẽ
có lạc thọ. Nhưng thường thường trong giờ phút không nhức răng ta chỉ có xả thọ
mà ta ít thấy vui vì không nhức răng. Ý thức về điều này, sẽ giúp ta chuyển xả
thọ thành lạc thọ (sensation du bien-être, the feeling of well-being).
Thực tập chánh niệm hướng về tâm ý giúp ta nhận diện
được tất cả các hiện tượng tâm ý thường phát hiện trong tâm thức như vui, buồn,
thương, ghét… Theo tâm lý học đạo Bụt, ta có 51 loại hiện tượng tâm ý (gọi là
tâm hành, cittasamskara), gồm có những tâm ý tích cực như thương mến, bao dung;
những tâm ý tiêu cực như giận hờn, tuyệt vọng; và những tâm ý bất định như tư
duy, hối tiếc.
Nhận diện là để tìm tới cội nguồn của những tâm hành ấy
để biết rõ bản chất của chúng và để chuyển hóa chúng. Ví dụ chứng trầm cảm
(depression). Nhận diện trầm cảm với năng lượng chánh niệm, ta có cơ hội nhìn
thấu bản chất và cội nguồn của nó để biết được những nguyên do xa gần đã làm
cho nó có mặt. Với năng lượng của niệm, định và tuệ ta có thể khám phá ra được
bản chất của khối trầm cảm. Dùng chánh niệm để chăm sóc trầm cảm, để đưa tâm ý
tiếp xúc với những hiện tượng tươi mát có hiệu năng nuôi dưỡng và trị liệu, ta
có thể làm thư nhẹ chứng trầm cảm. Dùng chánh niệm để đừng sử dụng, tiếp xúc và
tiêu thụ những hình ảnh, âm thanh và ý tưởng có công dụng đưa tới những sự căng
thẳng, lo lắng và buồn phiền, không cho chứng trầm cảm được tiếp tục nuôi dưỡng
bởi những độc tố đó, ta có thể chuyển hóa được trầm cảm.
Hiện nay trên thế giới, nhất là ở Tây phương, đã có
nhiều nơi áp dụng phép thực tập chánh niệm để đối trị các chứng đau nhức, trầm
cảm và giải tỏa tình trạng căng thẳng trong thân tâm. Tại Trung Tâm Y học trường
Đại Học Massachusetts chẳng hạn, có giáo sư Jon Kabat-Zinn, một giáo sư y khoa
giỏi về thiền chánh niệm, đang điều khiển một chương trình trị liệu gọi là The
Program of the Stress Reduction Clinic, chữa trị cho các chứng đau nhức, stress
và tật bệnh khá hữu hiệu. Chương trình này sử dụng phép thiền chánh niệm. Tại
các phân khoa Y Học thuộc các trường đại học lớn như Harvard, UCLA, v.v… cũng
có những cơ sở nghiên cứu và áp dụng thiền tập vào sự chữa trị tâm bệnh và thân
bệnh.
Tại trường Đại Học Y Khoa Harvard có Viện Tâm/Thân Y
Khoa (Mind/Body Medical Institute) do giáo sư Herbert Benson sáng lập và điều
hành, cũng đang nghiên cứu, truyền dạy và áp dụng thiền trong việc chữa trị. Viện
này đã liên tục hoạt động từ 35 năm nay. Giáo sư Benson báo cáo: “Trong viện
chúng tôi có nhiều nhà khoa học, y học, tâm lý học, giáo dục học và y tá đã từng
được đào tạo tới mức khá cao: các vị ấy sau khi hướng dẫn những cuộc nghiên cứu,
tìm tòi và thực nghiệm trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đã công nhận rằng thiền
tập có thể đem lại được rất nhiều mặt trị liệu. Chúng tôi đã phát triển được những
chương trình y tế có thể đem tới những phương thức chữa trị có hiệu năng làm
thuyên giảm những triệu chứng bệnh hoạn do sự căng thẳng tâm trí tạo ra. Trên
30 năm qua, các phòng thí nghiệm của trường Đại Học Y Khoa Harvard đã nghiên cứu
một cách có hệ thống những lợi ích của sự hỗ tương ảnh hưởng giữa thân và tâm.
Những cuộc nghiên cứu ấy đã chứng nghiệm rằng mỗi khi ta lặp lại liên tiếp nhiều
lần một câu kinh, một câu thiền ngữ hay một âm thanh (linh chú, dharani) để cho
trạng thái tán loạn của tâm ý không thể xâm nhập, thì trong những lúc ấy sẽ có
những biến chuyển sinh lý thuận lợi xảy ra. Những biến chuyển này đi ngược chiều
với những biến chuyển đã từng mang lại sự căng thẳng tâm trí. Những cuộc nghiên
cứu ấy đã chứng minh rằng các biến chuyển do thiền tập đem lại là rất lợi lạc,
bởi vì chúng có hiệu năng giúp cho sự chữa trị những triệu chứng như huyết áp
cao, nhịp đập trái tim không đều, các chứng đau nhức kinh niên, chứng mất ngủ,
chứng đánh mất khả năng sinh dục, những triệu chứng của bệnh ung thư và còn nhiều
triệu chứng khác nữa”.
Thực tập chánh niệm hướng về đối tượng tâm ý (objects
of mind). Hướng về những đối tượng của tri giác như núi, sông, cây, cỏ, người,
vật, xã hội, v.v… ta sẽ có cơ hội nhìn sâu để thấy được tự tính vô thường và
liên hệ sinh khởi và tồn tại của mọi hiện tượng. Khi năng lượng của niệm, định
và tuệ đã hùng hậu, ta đạt tới một cái thấy sâu sắc về thực tại và ta đạt tới sự
tự do lớn, không còn vướng mắc vào nỗi lo âu, hoặc sự thèm khát, hận thù và tuyệt
vọng. Bụt và các vị hiền thánh đã đạt tới cái thấy ấy cho nên họ có tự do lớn,
gọi là giải thoát.
Thực tập thiền, chúng ta cũng đạt được tới tự do, và
dù tự do của ta tuy chưa lớn, nhưng chúng ta cũng đã tháo gỡ được rất nhiều tri
giác sai lầm và thành kiến, do đó ta không còn đau khổ nhiều như trước. Ngược lại,
ta có thể có nhiều an lạc trong đời sống hiện tại.
Niệm (smrti), Định (samadhi) và Tuệ (prajna) là những
năng lượng chế tác ra do sự thực tập thiền.
Thiền học đã có mặt tại Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ ba
với thiền sư Khương Tăng Hội[1]. Thiền sư Tăng Hội đã được học đạo tại Giao
Châu và đến năm 255 đã sang Bành Thành (Nam Kinh bây giờ), kinh đô nước Đông
Ngô thời đó, để truyền bá thiền học. Thầy đến nước Ngô gần 300 năm trước ngày
thầy Bồ Đề Đạt Ma tới nước Lương. Nước ta từ xưa đến nay đã từng có nhiều vị
thiền sư nổi tiếng[2]. Ngoài những thiền sư xuất gia, ta cũng đã có những thiền
sư tại gia cự phách như Trần Cảnh (tức là Vua Trần Thái Tông, tác giả sách Khóa
Hư Lục) và Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Quốc Tung, anh cả của tướng Trần Hưng Đạo)
v.v…
Thiền đã là một viên đá nền tảng cho nền văn minh Việt
Nam. Văn chương, triết lý và nếp sống đạo đức tâm linh người Việt chứa đựng rất
nhiều yếu tố thiền. Thực tập thiền giúp ta xóa bỏ thái độ cố chấp, hết bám víu
vào những giáo điều, trở nên bao dung, độ lượng, biết hiểu, biết thương sâu sắc
hơn và chuyển hóa được nhiều đau khổ trong tâm như thèm khát, vướng mắc, kỳ thị,
hận thù, nhỏ nhen, ích kỷ, sợ hãi, tuyệt vọng v.v…
Người Tây phương từ cuối thế kỷ 20 đã bắt đầu chú ý tới
thiền và rất đông người, nhất là giới trẻ và giới trí thức, đã tìm tới để học hỏi
và thực tập thiền. Những tiện nghi vật chất không đủ để làm ra hạnh phúc. Những
sầu khổ ưu tư và thắc mắc của ta chỉ có thể được giải đáp bằng một đời sống tâm
linh. Đạo Bụt và sự thực tập thiền hiện đang đáp ứng cho đông đảo quần chúng về
những nhu yếu đó. Đạo Bụt có khả năng đi đôi với tinh thần khoa học, hợp tác với
khoa học trong lĩnh vực khám phá những sự thực tâm linh, sinh học và vật lý học.
Đạo Bụt rất chuộng thực nghiệm và Bụt Thích Ca thường khuyên dạy đệ tử không nên
mất thì giờ luận thuyết về những chuyện siêu hình.
Kết sử
Kết sử (tiếng Phạn là samyojana) là những gút thắt hoặc
những khối đam mê, đè nén, sợ hãi, lo lắng, v.v… đã kết tụ lại trong chiều sâu
tâm thức (đạo Bụt gọi là Tàng thức), có khả năng trói buộc và sai sử ta làm,
nói và nghĩ những điều ta thật sự không muốn làm, muốn nói, và muốn nghĩ đến. Kết
sử được gieo trồng và nuôi lớn bằng nếp sống không chánh niệm hàng ngày. Chánh
niệm có khả năng nhận diện chúng mỗi khi chúng phát hiện trên bề mặt của tâm thức
(đạo Bụt gọi là Ý thức). Những kết sử này đã được hình thành trong quá khứ, có
khi dưới dạng thói quen (tập khí) do ông bà cha mẹ trao truyền lại trong gia sản
di truyền. Ta không cần đi về quá khứ để tìm kiếm, không cần phải đào bới trong
ký ức (như trong Phân tâm liệu pháp) để tìm ra nguyên do của những rối nhiễu về
tâm trí.
Năng lượng chánh niệm có khả năng nhận diện những kết
sử khi chúng phát hiện và nhìn sâu vào chúng, ta đã có thể thấy được cội nguồn
của những rối nhiễu kia. Thiền pháp chánh niệm chú trọng tới giây phút hiện tại,
thấy rằng nhìn sâu vào hiện tại ta có thể thấy được cả quá khứ và tương lai.
Mười loại kết sử chính là: đam mê (tham), thù hận
(sân), tri giác lầm lạc (si), tự cho mình là hơn người, kém người hay bằng người
(mạn), nghi ngờ (nghi), cho rằng hình hài này là ta (thân kiến), nhận thức nhị
nguyên (biên kiến), có những cái thấy sai lầm (tà kiến), cố chấp, không có khả
năng buông bỏ nhận thức hiện tại để có thể vượt tới một nhận thức cao hơn (kiến
thủ), và mắc kẹt vào các tư tưởng mê tín, dị đoan và hình thái nghi lễ (giới cấm
thủ kiến).
Sức khỏe và hạnh phúc của ta tùy thuộc rất nhiều vào
sự chuyển hóa mười kết sử nói trên.
Mạn
Thiền tập giúp ta thấy được tính tương quan tương
duyên của vạn vật. Không có hiện tượng nào (người hay vật) có thể tự mình sinh
khởi và tồn tại độc lập. Cái này phải nương vào cái kia mà sinh khởi và tồn tại.
Đó là cái thấy duyên sinh, có khi gọi là tương tức hoặc vô ngã. Vô ngã nghĩa là
không có một thực tại biệt lập và vĩnh hằng nào nằm trong lòng sự vật. Tất cả đều
chuyển biến (vô thường) từng phút từng giây. Cha và con chẳng hạn, họ không phải
là hai thực tại biệt lập. Cha có trong con và con có trong cha. Con là sự tiếp
nối của cha (về tương lai), cha là sự tiếp nối của con (về nguồn cội). Hạnh
phúc của con có liên hệ tới hạnh phúc của cha; nếu cha không có hạnh phúc thì hạnh
phúc của con cũng không thể nào toàn vẹn. Vì cái này liên hệ tới cái kia, cái
này nằm trong cái kia, không có cái kia thì cái này không có (“Thử hữu cố bỉ hữu,
thử vô cố bỉ vô”, kinh Tạp A Hàm) cho nên bản chất của vạn hữu là vô ngã. Người
có tuệ giác không thấy có những cái ta riêng biệt và độc lập.
Trong giới tâm lý trị liệu, có mặc cảm mình thua kém
người (low self-esteem) là một chứng bệnh. Trong thiền học, có mặc cảm hơn người
hay có mặc cảm bằng người cũng vẫn còn là bệnh. Bởi vì cả ba thứ mặc cảm đều được
xây dựng trên ý niệm về một cái ta riêng biệt. Cả ba thứ mặc cảm đều được gọi
là mạn (Ưu mạn, liệt mạn, đẳng mạn, Kinh Tam Di Đề, Tạp A Hàm, 1078).
Những khổ đau do giận hờn, ganh tỵ, thù hận, tủi hổ,
v.v… chỉ có thể được hoàn toàn chuyển hóa khi ta đạt tới cái thấy vô ngã. Đây
là nền tảng sự thực tập trị liệu của thiền.
Tàng thức
Thiền sư Thường Chiếu (đời Lý) dạy rằng nếu biết được
đường lối vận hành của tâm thì sự thực tập thiền sẽ trở nên dễ dàng. Tâm lý học
đạo Bụt rất phong phú. Duy Thức Tông của đạo Bụt nói tới tám thức: Năm thức cảm
giác[4], ý thức, mạt na thức và tàng thức. Mạt na là năng lượng bám víu vào ý
tưởng có một cái “ta” riêng biệt, độc lập và thường tại, đối lập với những cái
“không ta”. Tàng thức (alaya) là phần sâu thẳm nhất của tâm thức, chứa đựng tất
cả những hạt giống (chủng tử, tiếng Phạn là bija) của tất cả các tâm hành như
buồn, vui, giận ghét, v.v… Những hạt giống này khi được tưới tẩm hoặc tiếp xúc
thì phát hiện lên ý thức thành những vùng năng lượng. Tàng thức giống như một mảnh
vườn chứa đủ các loại hạt giống, còn ý thức thì giống như người làm vườn.
Trong công phu thiền tập, ý thức làm việc nhưng tàng
thức cũng làm việc âm thầm ngày dêm. Vô thức của tâm lý học Tây phương chỉ là một
phần của tàng thức. Nhận diện và chuyển hóa những kết sử nằm sâu trong tàng thức
đưa tới sự giải thoát và trị liệu. Đó gọi là chuyển y (asrayaparavritti) nghĩa
là sự chuyển hóa thực hiện ngay ở cơ sở hạ tầng của tâm thức.
Sự lưu thông của
tâm hành
Khi những ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức bị dồn nén, sự
lưu thông của các tâm hành có thể bị tắc nghẽn và nhiều biến chứng có thể xảy
ra trong lĩnh vực thân và tâm. Tuy bị dồn nén, chúng vẫn có tác dụng sai sử và
ràng buộc ta, vì vậy chúng là những khối kết sử quan trọng. Ta có thói quen lẫn
tránh chúng, làm như chúng không có mặt, và vì vậy để cho chúng không có cơ hội
trồi lên hoặc phát hiện trên ý thức, ta đi tìm sự quên lãng trong tiêu thụ. Ta
không muốn trở về với ta, vì ta có cảm tưởng khi trở về với ta, ta sẽ phải đối
diện với những nỗi khổ đau và những niềm thất vọng ấy. Ta muốn cho vùng ý thức
của ta (được ví như là phòng khách) được chiếm cứ để các nỗi khổ niềm đau (nằm
dưới nhà kho) trong ta không có chỗ phát hiện. Vì vậy ta xem truyền hình, nghe
truyền thanh, xem sách, đọc báo, nói chuyện, đánh cờ, bài bạc, uống rượu, v.v…
để tìm lãng quên. Có thể ta không ý thức rằng ta tiêu thụ, và “giải trí” như thế
chỉ là để cho ý thức bên trên luôn luôn bận rộn và để cho các kết sử bên dưới
không có dịp trào lên. Kỳ thực đó chỉ là một sự dồn nén các tâm hành. Sự dồn
nén này sẽ tạo nên tình trạng thiếu lưu thông của các tâm hành.
Khi máu huyết không được lưu thông thì nhiều triệu chứng
bệnh hoạn xuất hiện nơi cơ thể. Cũng vậy, khi các tâm hành bị dồn nén, không lưu
thông thì các triệu chứng tâm bệnh (và cả thân bệnh) cũng bắt đầu xuất hiện.
Vì vậy ta phải biết cách chấm dứt sự dồn nén, để các
tâm hành ước muốn, sợ hãi hoặc uất ức được dịp phát hiện, được dịp nhận diện và
được dịp chuyển hóa. Nếu không thực tập thiền, nếu không có năng lượng của
chánh niệm thì ta không thể làm việc này.
Chế tác chánh niệm bằng thiền tập hàng ngày sẽ giúp
ta nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của ta. Nếu không
có năng lượng chánh niệm thì ta không có khả năng đối diện và xử lý chúng, và
ta sẽ bị chúng làm cho tràn ngập. Mỗi lần nhận diện và ôm ấp (chứ không phải đè
nén hoặc đàn áp) thì những năng lượng tiêu cực kia sẽ yếu bớt đi một chút, và
năm bảy phút sau (có khi lâu hơn) chúng sẽ trở về tàng thức, dưới dạng những hạt
giống. Lần sau phát hiện, chúng cũng sẽ được nhận diện ôm ấp như thế và cũng sẽ
trở về tàng thức. Thực tập như vậy ta không còn sợ hãi chúng, đàn áp chúng, dồn
ép chúng như xưa, nhờ đó mà tình trạng lưu thông của tâm ý ta sẽ được thiết lập
trở lại, và những biến chứng tâm lý về cơ thể kia sẽ không còn.
Mũi tên thứ
hai
Chánh niệm trước hết là khả năng nhận diện đơn thuần
(mere recognition) về sự có mặt của một đối tượng, không phê phán, không xét xử,
không tham đắm vào đối tượng ấy, cũng không chán ghét xua đuổi đối tượng ấy, và
nhất là không xem thường hoặc không quan trọng hóa nó. Ví dụ ta có một vùng đau
nhức trong cơ thể. Ta chỉ đơn thuần nhận diện sự đau nhức ấy. Với năng lượng của
định và tuệ ta có thể thấy và hiểu được tầm quan trọng và nguyên do đích thực của
sự đau nhức ấy, và phương cách chữa trị sẽ được căn cứ trên tuệ giác mà niệm và
định đem lại.
Nếu ta lo lắng nhiều quá, nếu ta tưởng tượng nhiều
quá, thì những lo lắng và những tưởng tượng ấy sẽ làm cho tâm ý ta căng thẳng,
và sự đau nhức sẽ tăng lên. Nó không phải là ung thư mà ta tưởng tượng nó là
ung thư và ta có thể lo lắng và sầu não đến mất ăn, mất ngủ. Khổ đau vì thế
tăng lên gấp bội và sẽ đưa tới một tình trạng nghiêm trọng hơn. Trong kinh Tạp
A Hàm, Bụt đưa ra ví dụ về mũi tên thứ hai. Nếu một mũi tên thứ hai bay tới và
cắm đúng ngay vào vết thương gây ra do mũi tên đầu, thì sự đau nhức sẽ không
tăng lên gấp đôi mà tăng lên gấp mười lần! Vì thế ta đừng để cho một mũi tên thứ
hai hay một mũi tên thứ ba (do sự tưởng tượng và lo lắng) bay đến và làm hại ta
thêm.
Tai họa của dục
Theo thiền quán, hạnh phúc chân thật là sự có mặt
trong giây phút hiện tại, khả năng tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống
có mặt trong giây phút ấy và khả năng hiểu biết, thương yêu chăm sóc và làm hạnh
phúc cho những người chung quanh. Đeo đuổi theo những đối tượng của dục như tiền
tài, danh vọng, quyền hành và sắc dục, người ta đã không tạo dựng được hạnh
phúc chân thật mà còn tạo ra nhiều khổ đau cho bản thân và cho kẻ khác.
Con người đầy dẫy ham muốn và ngày đêm chạy theo dục
là con người không có tự do. Không có tự do thì không có thảnh thơi, không có hạnh
phúc. Ít ham muốn (thiểu dục), bằng lòng với một nếp sống giản dị và lành mạnh
(tri túc) để có thì giờ sống sâu sắc từng phút giây của sự sống hàng ngày và
chăm sóc thương yêu cho những người thân, đó là bí quyết của hạnh phúc chân thật.
Trong xã hội bây giờ, quá nhiều người đang đi tìm hạnh
phúc trong đường hướng của dục, vì vậy chất lượng của khổ đau và tuyệt vọng đã
tăng trưởng rất nhiều. Kinh Ở Rừng (Samyutta Nikaya 194) nói tới dục như một
chiếc bẫy. Bị sập vào bẫy dục, ta sẽ sầu khổ mất hết tự do, và không thể nào có
được hạnh phúc chân thật. Sợ hãi và lo lắng cũng đóng một vai trò quan trọng
trong sự tạo tác khổ dau. Nếu ta có đủ tuệ giác để chấp nhận một nếp sống thiểu
dục và tri túc thì ta sẽ không cần phải lo lắng và sợ hãi nữa. Chỉ vì nghĩ rằng
ngày mai ta có thể mất công ăn việc làm và sẽ không thể có được lương bổng hàng
tháng như bây giờ nên ta thường trực sống trong sự lo lắng phập phồng.
Do đó con đường tiêu thụ ít và có hạnh phúc nhiều, được
xem là con đường thoát duy nhất của nền văn minh hiện tại.
Vài bài tập có công năng nuôi dưỡng và trị liệu
Sau đây là năm bài thiền tập có hướng dẫn rất dễ hành
trì. Ta có thể tập thử để thấy tính chất thực tiễn của thiền. Bốn bài đầu có
tác dụng nuôi dưỡng. Bài thứ năm có tác dụng trị liệu, tất cả được trích từ
trong sách Sen Búp Từng Cánh Hé[5].
Bài tập thứ nhất:
AN TỊNH TÂM HÀNH
1 Thở vào, tâm tĩnh lặng. Tĩnh lặng
Thở ra, miệng mỉm cười. Mỉm cười
2 Thở vào, an trú trong hiện tại. Hiện tại
Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời. Tuyệt vời
Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này.
Có nhiều người dù đã thực tập bài này trong nhiều năm nhưng vẫn còn tiếp tục thực
tập, bởi vì nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả.
Thở vào, ta chú tâm tới hơi thở: Hơi thở vào tới đâu
ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát; nước đi tới đâu thì
ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng thì thân cũng tĩnh lặng,
bởi vì hơi thở có ý thức đem thân và tâm về một mối.
Khi thở ra ta mỉm cười, để thư giãn tất cả các bắp thịt
trên mặt (có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giãn
khi ta mỉm cười. Nụ cười vừa là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở vào đem lại,
vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rõ
ràng thêm lên.
Hơi thở thứ hai đem ta về với giây phút hiện tại, cắt
đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú
bây giờ và ở đây. Sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại, cho nên ta phải
trở về giây phút ấy để tiếp xúc với sự sống. Hơi thở này giúp ta đạt được sự sống
chân thật. Biết mình đang sống và biết mình có thể tiếp xúc với tất cả mọi mầu
nhiệm của sự sống trong ta và chung quanh ta, đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt
nhìn hoặc lắng tai nghe là ta tiếp nhận được với những mầu nhiệm của sự sống.
Vì vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất,
nếu ta thực tập sống tỉnh thức bằng hơi thở.
Ta có thể thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước
khi đi sang hơi thở thứ hai.
Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường,
trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế
đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả lúc đang làm việc.
Bài tập thứ
hai: AN TỊNH THÂN HÀNH
1 Thở vào, biết thở vào. Vào
Thở ra, biết thở ra. Ra
2 Hơi thở vào càng sâu. Sâu
Hơi thở ra càng chậm. Chậm
3 Thở vào, ý thức toàn thân. Ý thức
Thở ra, buông thư toàn thân. Buông thư
4 Thở vào an tịnh toàn thân. An tịnh
Thở ra, lân mẫn[6] toàn thân. Lân mẫn
5 Thở vào, cười với toàn thân. Cười
Thở ra, thanh thản toàn thân. Thanh thản
6 Thở vào, cười với toàn thân. Cười
Thở ra, buông thả nhẹ nhàng. Buông thả
7 Thở vào, cảm thấy mừng vui. Mừng vui
Thở ra, nếm nguồn an lạc. An lạc
8 Thở vào, an trú hiện tại. Hiện tại
Thở ra, hiện tại tuyệt vời. Tuyệt vời
9 Thở vào, thế ngồi vững chãi. Vững chãi
Thở ra, an ổn vững vàng. An ổn
Bài này tuy dễ thực tập nhưng hiệu quả to lớn vô
cùng! Những người mới bắt đầu thiền tập, nhờ bài này mà nếm ngay được sự tịnh lạc
của thiền tập. Tuy nhiên những người đã thiền tập lâu năm cũng vẫn cần thực tập
bài này để tiếp tục an tịnh và nuôi dưỡng thân tâm, hầu có thể đi xa hơn trên
con đường thiền trị liệu.
Hơi thở đầu (vào, ra) là để nhân diện hơi thở. Nếu đó
là hơi thở vào thì hành giả biết đó là hơi thở vào. Nếu đó là hơi thở ra thì
hành giả biết đó là hơi thở ra. Thực tập như thế vài lần tự khắc hành giả ngưng
được sự suy nghĩ về quá khứ, về tương lai và chấm dứt mọi tạp niệm. Sở dĩ được
như thế là vì tâm hành giả đã để hết vào hơi thở để nhận diện hơi thở, và do đó
mà tâm trở thành một với hoi thở. Tâm bây giờ không phải là tâm lo lắng hoặc
tâm tưởng nhớ mà chỉ là tâm hơi thở (the mind of breathing).
Hơi thở thứ hai (sâu, chậm) là để thấy được rằng hơi
thở vào đã sâu thêm và hơi thở ra đã chậm lại. Điều này xảy ra một cách tự
nhiên, không cần sự cố ý của hành giả. Thở và ý thức mình đang thở (như trong
hơi thở đầu) thì tự nhiên hơi thở trở nên sâu hơn, chậm hơn, điều hòa hơn,
nghĩa là có phẩm chất hơn. Mà khi hơi thở đã trở nên điều hòa, an tịnh và nhịp
nhàng thì hành giả bắt đầu có cảm giác an lạc trong thân và trong tâm. Sự an tịnh
của hơi thở kéo theo sự an tịnh của thân và tâm. Lúc bấy giờ hành giả đã bắt đầu
có pháp lạc, tức là có thiền duyệt.
Hơi thở thứ ba (ý thức toàn thân, buông thư toàn
thân): hơi thỏ vào đem tâm về vói thân và làm quen lại với thân. Hơi thở là cây
cầu bắc từ thân sang tâm và từ tâm sang thân. Hơi thở ra có công dụng buông thư
(relaxing) toàn thân. Trong khi thở ra hành giả làm cho các bắp thịt trên vai,
trong cánh tay và trong toàn thân thư giãn ra để cho cảm giác thư thái đi vào
trong toàn thân. Nên thực tập hơi thở này ít nhất là mười lần.
Hơi thở thứ tư (an tịnh toàn thân, lân mẫn toàn
thân): bằng hơi thở vào, hành giả làm cho an tịnh lại sự vận hành của cơ thể
(Kinh Niệm Xứ gọi là an tịnh thân hành); bằng hơi thở ra, hành giả tỏ lòng lân
mẫn săn sóc toàn thân. Tiếp theo hơi thở thứ ba hơi thở thứ tư làm cho toàn
thân lắng dịu và giúp hành giả thực tập việc đem lòng từ bi mà tiếp xử với
chính thân thể của mình.
Hơi thở thứ năm (cười với toàn thân, thanh thản toàn
thân): nụ cười làm thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt. Hành giả gởi nụ cười ấy
đến với toàn thân như một giòng suối mát. Thanh thản có nghĩa là làm cho nhẹ
nhàng và thư thái (easing). Hơi thở này cũng có mục đích nuôi dưỡng toàn thân bằng
lòng lân mẫn của chính hành giả.
Hơi thở thứ sáu (cười với toàn thân, buông thả nhẹ
nhàng): tiếp nối hơi thở thứ năm, hơi thở này làm cho tan biến tất cả những gì
căng thẳng (tensions) còn lại trong cơ thể.
Hơi thở thứ bảy (cảm thấy mừng vui, nếm nguồn an lạc):
trong khi thở vào, hành giả cảm nhận nỗi mừng vui thấy mình còn sống, còn khỏe
mạnh, và có cơ hội săn sóc, nuôi dưỡng cơ thể lẫn tinh thần mình. Hơi thở ra đi
với cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc luôn luôn đơn sơ và giản dị. Ngồi yên và thở
có ý thức, có thể đã là một thứ hạnh phúc rồi. Biết bao nhiêu người đang quay như
một chiếc chong chóng trong đời sống bận rộn hàng ngày và không có cơ hội nếm
được pháp lạc này.
Hơi thở thứ tám (an trú hiện tại, hiện tại tuyệt vời):
hơi thở vào đưa hành giả về an trú trong giây phút hiện tại. Bụt dạy rằng quá
khứ đã đi mất, tương lai thì chưa tới, sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện
tại. Trở về an trú trong hiện tại là thực sự trở về với sự sống, và chính trong
giây phút hiện tại mà hành giả tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của cuộc
đời. An lạc, giải thoát, Phật tính và niết bàn v.v… tất cả đều chỉ có thể tìm
thấy trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc nằm trong giây phút hiện tại. Hơi thở
vào giúp hành giả tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Hơi thở ra đem lại rất nhiều
hạnh phúc cho hành giả, nhờ vậy mà hành giả có được cái cảm giác “hiện tại tuyệt
vời”.
Hơi thở thứ chín (thế ngồi vững chãi, an ổn vững
vàng): hơi thở này giúp hành giả thấy được thế ngồi vững chãi của mình. Nếu thế
ngồi chưa được thẳng và đẹp thì sẽ trở nên thẳng và đẹp. Thế ngồi vững chãi đưa
đến cảm giác an ổn vững vàng trong tâm ý. Chính trong lúc ngồi như vậy mà hành
giả làm chủ được thân tâm mình, không bị lôi kéo theo những thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp có tác dụng làm đắm chìm.
Bài tập thứ
ba: NUÔI DƯỠNG
1. Thở vào, biết thở vào. Vào
Thở ra, biết thở ra. Ra
2. Hơi thở vào càng sâu. Sâu
Hơi thở ra càng chậm. Chậm
3. Thở vào, tôi thấy khỏe. Khỏe
Thở ra, tôi thấy nhẹ. Nhẹ
4. Thở vào tâm tĩnh lặng. Lặng
Thở ra, miệng mỉm cười. Cười
5. An trú trong hiện tại. Hiện tại
Giây phút đẹp tuyệt vời. Tuyệt vời
Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu, trong thiền đường,
ngoài phòng khách, ở nhà bếp hay trong toa xe lửa.
Hơi thở đầu là để đưa thân và tâm về hợp nhất, đồng
thời giúp ta trở về an trú trong giây phút hiện tại, tiếp xúc với sự sống mầu
nhiệm đang xảy ra trong phút giây ấy. Sau khi ta thở như thế trong vài ba phút,
tự nhiên hơi thở ta trở nên nhẹ nhàng, khoan thai, êm hơn, chậm hơn, sâu hơn và
cố nhiên ta cảm thấy rất dễ chịu trong thân cũng như tong tâm. Đó là hơi thở “sâu,
chậm” thứ hai. Ta có thể an trú với hơi thở ấy bao nhiêu lâu cũng được. Rồi ta
đi qua hơi thở “khỏe, nhẹ”. Ở đây ta ý thức được tính cách nhẹ nhàng (khinh an)
và khỏe khoắn (tịnh lạc) của thân tâm, và thiền duyệt tiếp tục nuôi dưỡng ta.
Trong thiền môn có câu Thiền duyệt ví thực có nghĩa là niềm vui của thiền tập
được sử dụng như thức ăn để nuôi dưỡng hành giả. Hơi thở tiếp theo là “lặng, cười”
và “hiện tại, tuyệt vời” mà ta đã thực tập trong bài thứ nhất.
1. Thở vào, tôi biết tôi thở vào. Vào
Thở ra, tôi biết tôi thở ra. Ra
2. Thở vào, tôi thấy tôi là bông hoa. Là hoa
Thở ra, tôi cảm thấy tươi mát. Tươi mát
3. Thở vào, tôi thấy tôi là trái núi. Là núi
Thở ra, tôi cảm thấy vững vàng. Vững vàng
4. Thở vào, tôi trở nên mặt nước tĩnh. Nước tĩnh
Thở ra, tôi im lặng phản chiếu trời mây đồi núi. Lặng
chiếu
5. Thở vào, tôi trở nên không gian mênh mông. Không
gian
Thở ra, tôi cảm thấy tự do thênh thang. Thênh thang
Bài này có thể được thực tập vào buổi đầu của tất cả
các giờ thiền tọa, hoặc có thể được thực tập trong suốt buổi thiền tọa để nuôi
dưỡng thân tâm, tĩnh lặng thân tâm và đạt tới buông thả tự do.
Hơi thở đầu có thể được thực tập nhiều lần cho đến
khi ta đạt tới trạng thái thân tâm là một, kết hợp thân và tâm thành một khối
nhất như.
Hơi thở thứ hai đem lại sự tươi mát. Con người đáng
lý phải tươi mát như một bông hoa, bởi chính con người là một bông hoa trong vườn
hoa vạn vật. Chúng ta chỉ cần nhìn các em bé xinh xắn là thấy điều đó. Hai mắt
trong là những bông hoa. Khuôn mặt sáng với vầng trán hiền lành là một bông
hoa. Hai bàn tay là bông hoa v.v… Chỉ vì lo lắng nhiều mà trán ta nhăn, chỉ vì
khóc nhiều và trải qua nhiều đêm không ngủ nên mắt ta mờ. Thở vào để phục hồi
tính cách bông hoa của tự thân. Hơi thở vào làm sống dậy bông hoa của tự thân.
Hơi thở ra giúp ta ý thức rằng ta có thể và đang tươi mát như một bông hoa. Đó
là tự tưới hoa cho mình, đó là từ bi quán thực tập cho bản thân.
Hơi thở thứ ba, thấy được ta là núi vững vàng sẽ giúp
ta đứng vững được trong những lúc ta bị xúc động vì những cảm thọ quá mãnh liệt.
Mỗi khi lâm vào trạng thái thất vọng, lo lắng, sợ hãi hoặc giận dữ, ta có cảm
tưởng ta đang đi ngang qua một cơn bão tố. Ta như một thân cây đang đứng trong
cơn lốc. Nhìn một cây đứng trong cơn bão, ta thấy ở ngọn cây cành lá oằn oại
như có thể bị gẫy ngã hoặc cuốn theo cơn lốc bất cứ lúc nào. Nhưng nếu nhìn xuống
thân cây và nhất là cội cây, biết rằng rễ cây đang bám chặt vững vàng trong lòng
đất, ta sẽ thấy cây vững chãi hơn và ta sẽ an tâm hơn. Thân tâm ta cũng thế.
Trong cơn lốc của cảm xúc, nếu ta biết dời khỏi vùng bão tố (tức là vùng não bộ)
mà di chuyển sự chú ý xuống bụng dưới, nơi huyệt đan điền và thở thật sâu thật
chậm theo công thức là núi vững vàng ta sẽ thấy rất khác. Ta sẽ thấy ta không
phải chỉ là cảm xúc của ta. Cảm xúc đến rồi đi và ta sẽ ở lại. Dưới sự trấn ngự
của cảm xúc, ta có cảm tưởng mong manh, dễ vỡ, ta nghĩ ta có thể đánh mất sự sống
của ta. Có những người không biết xử lý những cảm xúc mãnh liệt của họ. Khi khổ
đau quá vì thất vọng, sợ hãi hay giận hờn, họ có thể nghĩ rằng phương pháp duy
nhất để chấm dứt khổ đau là chấm dứt cuộc đời mình. Vì vậy nhiều người, trong
đó có những người rất trẻ, đã tự tử. Nếu biết ngồi xuống trong tư thế hoa sen
mà thực tập hơi thở là núi vững vàng, họ có thể vượt thoát được giai đoạn khó
khăn đó. Trong tư thế nằm buông thư, ta cũng có thể thực tập hơi thở này. Ta có
thể theo dõi sự lên xuống (phồng, xẹp) của bụng dưới và hoàn toàn chú tâm vào bụng
dưới. Như vậy là ta đang thoát khỏi sự tàn hại của cơn bão tố và không bị cơn lốc
cuốn đi. Thực tập như thế cho đến khi tâm hồn lắng dịu và cơn bão tố qua đi là
ta vừa thoát nạn.
Tuy nhiên ta không nên đợi đến khi có tâm trạng khổ
đau rồi mới thực tập. Nếu không có thói quen, ta sẽ quên mất sự thực tập và sẽ
để cho cảm xúc trấn ngự và lôi kéo. Ta hãy thực tập hàng ngày để có thói quen tốt,
và như thế mỗi khi những cảm xúc khổ thọ kéo đến, ta sẽ tự nhiên biết thực tập
để xử lý và điều phục chúng. Ta cũng nên chỉ bày cho những người trẻ thực tập
thiền trị liệu để giúp họ vượt thoát những cơn cảm xúc quá mạnh của họ.
Nước tĩnh lặng chiếu là hơi thở thứ tư có mục đích
làm tĩnh lặng thân tâm. Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt có dạy: “Thở vào, tôi
làm tĩnh lặng tâm tư tôi”. Đây chính là bài thực tập ấy. Hình ảnh hồ nước tĩnh
lặng giúp ta thực tập dễ dàng hơn. Mỗi khi tâm ta không tĩnh lặng, tri giác ta
thường sai lầm: những điều ta thấy, nghe và suy nghĩ không phản chiếu được sự
thật, cũng như mặt hồ khi có sóng không thể nào phản chiếu được trung thực những
đám mây trên trời. “Bụt là vầng trăng mát, đi ngang trời thái không, hồ tâm
chúng sanh lặng, trăng hiện bóng trong ngần” là ý ấy. Những buồn khổ và giận hờn
của ta phát sinh từ tri giác sai lầm, vì vậy để tránh tri giác sai lầm, ta phải
tập luyện cho tâm được bình thản như mặt hồ thu buổi sáng. Hơi thở là để tạo
cho ta sự an tịnh ấy.
Không gian thênh thang là hơi thở thứ năm. Nếu ta có
quá nhiều bận rộn và ưu tư, ta sẽ không có thanh thản và an lạc, vì vậy hơi thở
này nhằm đem không gian về cho chúng ta, không gian trong lòng và không gian
chung quanh ta. Nếu ta có nhiều lo toan, nhiều dự án quá thì ta nên bỏ bớt. Những
đau buồn oán giận trong ta cũng vậy, ta phải tập buông bỏ. Những loại hành lý ấy
chỉ làm cho cuộc đời thêm nặng. Nhiều khi ta nghĩ rằng nếu không có những hành
lý kia (có thể là chức tước, địa vị, danh vọng, cơ sở, người tay chân, v.v…),
ta sẽ không có hạnh phúc. Nhưng nếu xét lại, ta sẽ thấy rằng hầu hết những hành
trang đó là chướng ngại vật cho hạnh phúc của ta, buông bỏ được chúng thì ta có
hạnh phúc.
Hạnh phúc của Bụt rất lớn. Có một hôm ngồi trong rừng
Đại Lâm ở ngoại ô thành Vaisali, Bụt thấy một bác nông dân đi qua. Bác nông dân
hỏi Bụt có thấy mười mấy con bò của bác không. Bác nói những con bò ấy đã sổng
đi mất, và hai sào đất trồng cây vừng của bác năm nay cũng bị sâu ăn hết; bác bảo
bác là kẻ khổ đau nhất trên đời, có lẽ bác phải tự tử! Bụt bảo bác đi tìm bò
ngã khác. Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại tươi cười nhìn các thầy khất
sĩ đang ngồi với Bụt và nói: “Các thầy có biết là các thầy có hạnh phúc và tự
do không? Các thầy không có một con bò nào để mà mất cả”.
Thực tập hơi thở này giúp ta buông bỏ những con bò của
ta, những con bò trong tâm cũng như những con bò ở ngoài thân ta.
Bài tập thứ
năm: TRỊ LIỆU
1 .Thở vào, tôi thấy tôi là em bé năm tuổi.
Thấy em bé
Thở ra, tôi cười với em bé năm tuổi là tôi.
Cười với em bé
2 Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là tôi, rất mong
manh, rất dễ bị thương tích.
Em bé rất mong manh, rất dễ bị thương tích
Thở ra, tôi cười với em bé trong tôi với nụ cười hiểu
biết và xót thương.
Cười hiểu biết và xót thương
3 .Thở vào, tôi thấy cha tôi là một em bé năm tuổi
Cha như em bé năm tuổi
Thở ra, tôi cười với cha tôi như một em bé năm tuổi
Cười với cha như em bé năm tuổi
4 Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là cha tôi, rất
mong manh, rất dễ bị thương tích.
Em bé là cha, rất mong manh, rất dễ bị thương tích
Thở ra, tôi cười với em bé là cha tôi với nụ cười hiểu
biết và xót thương.
Cười với cha với nụ cười hiểu biết và xót thương
5 .Thở vào, tôi thấy mẹ tôi là một em bé năm tuổi
Mẹ như em bé năm tuổi
Thở ra, tôi cười với mẹ tôi như một em bé năm tuổi.
Cười với mẹ như em bé năm tuổi
6 Thở vào, tôi thấy em bé năm tuổi là mẹ tôi, rất
mong manh, rất dễ bị thương tích.
Em bé là mẹ, rất mong manh, rất dễ bị thương tích
Thở ra, tôi cười với em bé là mẹ tôi với nụ cười hiểu
biết và xót thương.
Cười với mẹ với nụ cười hiểu biết và xót thương
7 Thở vào, tôi thấy những nỗi khổ của cha tôi hồi năm
tuổi.
Cha khổ hồi năm tuổi
Thở ra, tôi thấy những nỗi khổ của mẹ tôi hồi năm tuổi
Mẹ khổ hồi năm tuổi
8 Thở vào, tôi thấy cha tôi trong tôi.
Cha trong tôi
Thở ra, tôi cười với cha tôi trong tôi.
Cười với cha trong tôi
9 Thở vào, tôi thấy mẹ tôi trong tôi.
Mẹ trong tôi
Thở ra, tôi cười với mẹ trong tôi.
Cười với mẹ trong tôi
10 Thở vào, tôi hiểu được những nỗi khó khăn của cha
tôi trong tôi.
Khó khăn của cha trong tôi
Thở ra, tôi nguyện chuyển hóa cho cả cha tôi và tôi
Chuyển hóa cả hai cha con
11 Thở vào, tôi hiểu được những khó khăn của mẹ tôi
trong tôi.
Khó khăn của mẹ trong tôi
Thở ra, tôi nguyện chuyển hóa cho cả mẹ tôi và tôi
Chuyển hóa cả hai mẹ con
Bài tập này đã giúp cho nhiều người trẻ thiết lập lại
được liên lạc tốt đẹp giữa bản thân và cha mẹ, đồng thời chuyển hóa được những
nội kết được hun đúc từ tấm bé. Có những người không thể nghĩ đến cha hoặc mẹ
mà không có niềm oán hận và sầu khổ trong lòng. Hạt giống thương yêu luôn luôn
có sẵn trong lòng cha mẹ và trong lòng những người con, nhưng vì không biết tưới
tẩm những hạt giống ấy và nhất là vì không biết hóa giải những nội kết đã được
gieo trồng và không ngừng phát triển trong tâm, cho nên cả hai thế hệ đều thấy
khó khăn trong việc chấp nhận lẫn nhau.
Trong bước đầu, hành giả quán tưởng mình là một em bé
năm tuổi. Vào tuổi đó, ta rất dễ bị thương tích. Một cái trừng mắt nghiêm khắc,
một tiếng nạt, hoặc một tiếng chê cũng có thể gây thương tích và mặc cảm trong
ta. Khi cha làm khổ mẹ hoặc mẹ làm khổ cha, hoặc khi cha mẹ làm khổ nhau, hạt
giống khổ đau được gieo vào và được tưới tẩm trong lòng em bé. Cứ như thế, lớn
lên em bé sẽ mang nhiều nội kết khổ đau và sống với sự oán trách cha hoặc mẹ,
hoặc cả hai.
Thấy được mình là một em bé dễ bị thương tích như thế,
ta sẽ thấy tội nghiệp cho ta, ta sẽ thấy xót thương dâng lên và thấm vào con
người của ta. Ta cười với em bé năm tuổi bằng nụ cười của từ bi, của xót
thương. Đó tức là ta thực tập bi quán hướng về chính ta.
Sau đó, hành giả quán tưởng cha, hoặc mẹ mình là em
bé năm tuổi. Thường thì ta chỉ có thể thấy cha ta là một người lớn, nghiêm khắc,
khó tính, chỉ biết sử dụng uy quyền để giải quyết mọi việc. Nhưng ta biết rằng
trước khi thành người lớn, ông cũng đã từng là một chú bé con năm tuổi, cũng
mong manh dễ bị thương tích như ta. Ta thấy cậu bé ấy cũng đã từng khép nép,
nín im thin thít mỗi khi cha cậu nổi trận lôi đình. Ta thấy cậu bé ấy cũng đã
là nạn nhân của sự nóng nảy, cau có và gắt gỏng của cha cậu ấy, tức là ông nội
của ta. Nếu cần, ta có thể tìm tập ảnh gia đình ngày trước để khám phá lại hình
ảnh của cậu bé năm tuổi ngày xưa tức là cha ta, hay cô bé năm tuổi ngày xưa tức
là mẹ ta. Trong thiền quán ta hãy làm quen và mỉm cười thân thiện với cậu bé hoặc
cô bé ấy, ta thấy được tính cách mong manh và dễ bị thương tích của họ. Và ta
cũng sẽ thấy xót thương dâng trào lên. Khi chất liệu xót thương xuất hiện từ
trái tim ta, ta biết rằng sự quán chiếu bắt đầu có kết quả. Thấy được và hiểu
được thì thế nào ta cũng sẽ thương được. Nội kết của ta sẽ được chuyển hóa dần
với sự thực tập này. Với sự hiểu biết, ta bắt đầu chấp nhận, và ta sẽ có thể
dùng hiểu biết và tình thương của ta để trở về giúp cha hoặc mẹ ta chuyển hóa.
Ta biết ta có thể làm được việc này bởi vì sự hiểu biết
và lòng xót thương đã chuyển hóa ta, và ta đã trở nên dễ chịu, ngọt ngào, có
thêm nhiều bình tĩnh và kiên nhẫn.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
[1] Thân phụ thầy là người nước Khương Cư (Sogdiane,
Bắc Ấn Độ), qua Giao Châu buôn bán, thân mẫu thầy là người Việt.
[2] Xem Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, nhà
xuất bản Văn Học, Hà Nội.
[3] Tất cả những sách nà đều do nhà xuất bản Lá Bối
USA ấn hành, địa chỉ: 1037 E.Taylor, San Jose, CA 95112, Hoa Kỳ.
[4] Sắc, thanh, hương, vị, và xúc.
[5] Sen búp từng cánh hé, Nhất Hạnh, Lá Bối – San
Jose, CA, 1994
[6] có nghĩa là thương xót