I-TỤC THẮP HƯƠNG CÓ TỪ
BAO GIỜ?
Tra sách Vân Ðài Loại Ngữ của Lê Quý Ðôn (trang 184), ta
đọc một đoạn biên khảo rất kỹ về nguồn gốc của sự đốt
hương. Ðại khái thì ta biết rằng thuở xa xưa, người Tàu lấy
lửa đốt củi thui các con vật gọi là vật hy sinh, rồi sau thì
bắt chước phong tục đốt hương từ Tây phương tức Ấn Ðộ.
Việt Nam là một nơi mà tục đốt hương có rất sớm với sự du
nhập của Phật giáo. Lê Quý Ðôn viết:
Sách Vân Lộc Mạn sao chép: Sách Lễ Ký nói: "Khi tế
trời phải đốt củi ở trên giao đàn” (gọi là Thái đàn). Sách Chu
Lễ nói: "Ðốt củi thui trâu" nghĩa là để cầu thần.
Ðời sau không đốt củi, lại đốt hương, hương là do phương Tây
sản xuất. Nhà Phật khi hành lễ cũng đốt hương cho được thanh
tịnh, nên khi làm phép thì đốt hương niệm chú. Các đạo sĩ cũng
đốt hương tẩy uế. Nho giáo thì trái lại. Nay tế thánh Khổng
tử và tế thần xã tắc thì rước thần xong trước khi dâng
lụa, phải dâng hương ba lần. Lễ gia không làm thế, hoặc chỉ
nơi đô ấp mới làm mà thôi.
Sách Minh Chí chép: Vua Thái Tổ xuống lệnh hàng tháng cứ
mồng một và ngày rằm, từ quan tế tửu trở xuống đều phải
làm lễ thích thái, từ các quan quận huyện trở xuống phải đến
nhà học làm lễ dâng hương.
Nay xét, danh nho đời Minh là Tống Liêm có nói: "Ngày xưa
cầu thần, khi đã dâng lễ vật rồi là đốt cỏ tiêu cùng mỡ
chiên và cơm (chiên hương), nhưng nay thì thắp hương cho giản
tiện.
Khâu Tuấn nói: "Tế lễ để tỏ lòng thành kính, chứ
không cối ở lễ vật. Lễ phải tùy nghi, sao đúng nghĩa là
được; đừng câu nệ lấy lễ vật ngày nay để cúng thần đời
trước".
Kinh Thi có câu: "Thủ tiêu tế chi" (lấy cỏ tiêu
và mỡ dê tế). Sách Lễ Ký nói: "Rót rượu xuống đất để
giáng thần thì dùng rượu nghệ cho thơm" chớ không đốt
hương. Lưu Hướng làm bài Minh nói cái hỏa lò Bắc Sơn chỉ để
đốt hương, chớ không dùng để tế".
Ðời Hán Vũ Ðế, vua nước Hồn Da (Hung Nô) đầu hàng,
bắt được pho tượng bằng vàng ở cung Cam Tuyền, khi tế không
dùng trâu bò chỉ đốt hương lễ bái. Tục đốt hương bắt đầu
từ đấy.
Sau đây là bằng chứng đất Việt (Giao Châu) đã du nhập
trực tiếp đốt hương từ Ấn Ðộ, chứ không phải qua ngõ Trung
Hoa và ở Trung Hoa thì chỉ có vua và các quan mới có quyền làm
việc tế lễ, còn ở đất Giao Châu thì "nhà tư" người
dân đã bắt đầu cúng tế từ lâu:
"Trương Tân làm thứ sử Giao Châu, đốt hương và đọc
những sách tà ma Vu Sát thì làm tịnh xá (nhà tư) để đốt hương.
Ðó đều là các nhà tư dùng hương đốt, chớ không phải của cả
nước dùng hương thờ thần".
(Trích Bút khảo về Xuân, Lê Văn
Lân).
II-THẮP HƯƠNG -SỐ NÉN
THẮP SAO CHO ĐÚNG:
A-Nguồn gốc tục thắp
hương:
Nguồn gốc tục thắp hương của người Việt, Trung Quốc
và một số nước khác đã có từ lâu, tất cả đều du nhập tại
Ấn Độ.
Dẫn theo nguồn các tư liệu: Việt Nam du nhập việc thắp
hương cùng lúc với du nhập Phật giáo. Người Trung Quốc thì
bắt chước đốt hương của Ấn Độ để thay cho trước đó
thường đốt lửa thui vật tế cúng. Việc thắp hương mỗi vùng
mỗi đạo có khác nhau một chút nhưng đều chung một ý tưởng:
“Thành tâm, thành kính”.
B-Số nén hương khi thắp:
Từ trước đến nay khi thắp hương người ta thường quen
thắp theo số lẻ 1,3,5,7,9 thậm chí cả bó. Tuy chỉ là tượng
trưng nhưng cũng có thể quan niệm theo nhiều cách:
1-Nhà Phật quan niệm số lẻ là số âm, tượng trưng cho
thế lực vô hình và người đã khuất, nên thắp theo số lẻ là
hướng đến, là hợp lí…
2-Thắp một nén: Thể hiện sự thành kính trong lòng mình.
Một (nhất) nghĩa sâu là bao hàm tất cả. Nên một nén vẫn hiểu
sẽ thấu tới trời xa.
3-Thắp ba nén: Thông dụng nhất, tùy theo việc cầu xin để
hiểu: Tam bảo (Phật Pháp Tăng). Tam giới (Dục, sắc, vô sắc). Tam
thế phật (A di đà, Như Lai, Di Lạc tức Qúa khứ, hiện tại,
tương lai). Tam vô lậu học (Giới, Định, Tuệ)... Lại còn Tam Hoàng
(Thiên địa nhân). Tam cương (Vua cha thầy)…v.v…
- Một nhà nghiên cứu nước ta trước đây cũng giải thích
khi thắp 3 nén hương:
+ Tâm nhang là lòng thành.
+ Giới nhang là nghe theo lời răn của Phật, Thánh, Tổ
tiên.
+ Định nhang là tuyệt đối không thay lòng đổi dạ.
4- Năm nén: Tùy dùng theo nghĩa cầu đến: Ngũ phương trời
đất (Đông, Tây Nam Bắc, Giữa). Ngũ Hành (Kim, Mộc Thủy Hỏa Thổ)
hoặc 5 hướng thần linh…
5- Con số 7 và 9 tượng trưng cho vía của con người,
thường dùng khi liên quan đến cầu xin cho cá nhân, hoặc linh cữu
bàn vong người mới mất. Các trường hợp này theo quy tắc nam 7
nữ 9.
6- Thắp 2 nén: Vài nơi vài chỗ người ta cầu kỳ thắp 2
nén hương tại linh cữu cho người mới mất, việc này có liên
quan đến sách “Thọ Mai Gia Lễ” sẽ đề cập sau.
III. PHÂN BIỆT CÁC LOẠI
VÁI LỄ
Từ xưa lễ bái là một nét văn hóa tâm linh ai cũng đã
từng, xong đa số mọi người chỉ biết vái lấy vái để, không
phân biệt được ý nghĩa khác nhau giữa các lượt vái….
五拜
Ngũ bái (5 vái): Bất kỳ ở chùa hay mọi nơi thờ Phật, cứ lễ
phật mỗi lượt 5 vái.
四拜
Tứ bái (4 vái): Vào các đình đền miếu phủ nơi thờ thánh,
thần, qủy thần…vái mỗi lượt 4 vái.
三拜
Tam bái (3 vái): Chủ yếu dùng trong lễ gia tiên, lễ giỗ trong
cộng đồng.
二拜
Nhị bái (2 vái): Dùng một lần khi phúng viếng người mới mất.
Hai vái được giải thích: Người đến phúng viếng vẫn có cảm
giác người nằm kia đang ngủ có thể sẽ tỉnh lại, nên chỉ 2 vái.
chờ sau khi mồ yên mả đẹp sẽ vái 4 vái trước mồ để trả nợ
lúc trước còn thiếu.
一拜
Nhất bái (1 vái): Dùng cho người đang sống vái nhau. Những
trường hợp tạ ơn bề trên như cha mẹ, thầy…, những sự nhận
lỗi hay kính nể thường dùng lễ một vái.
* LƯU Ý THÊM KHI LỄ PHÚNG
ĐÁM TANG:
+ Nếu người quá cố thuộc bề trên (hàng ông cha), sau 2
vái vào giữa, còn phải đáp từ mỗi bên một vái khi con cháu họ
vái mình (đáp một vái sau khi họ vái trước).
+ Nếu người mất ngang vai, 2 bên là hàng con cháu thì khi
họ lễ tạ mình chỉ cần chắp tay đáp từ.
+ Nếu người mất vai dưới thuộc hàng con cháu thì không
cần vái nào chỉ thắp hương mặc niệm.
-ST-