Hiện nay Lục Tự Thần Chú của Quán Thế Âm Bồ Tát đã trở
thành một câu chân ngôn được phổ biến rộng rãi trong thế giới Phật Giáo. Tuy
nhiên rất ít người biết được nguồn gốc của câu thần chú này. Nếu như chúng ta
biết được rằng Lục Tự Thần Chú đã nở ra từ hàng ngàn mảnh xương sọ của Quán Thế
Âm Bồ Tát thì chắc chắn chúng ta sẽ ngạc nhiên và rúng động hơn nữa.
Quán Thế Âm Bồ Tát là một đệ tử của đức phật A Di Đà,
ngài đã phát nguyện trước đức Phật Đà một lời thề vĩ đại: “Tận hết sức lực, thần
thông để phổ độ tất cả chúng sinh. Nếu như còn một chúng sinh nào chưa được
siêu thoát, đệ tử sẽ quyết không thành chánh quả. Nếu như tất cả chúng sinh
chưa siêu thoát mà đệ tử nửa đường bỏ cuộc, thì xương sọ của đệ tử sẽ nứt vỡ
thành muôn ngàn mảnh.”
Sau khi lập xong lời trọng thệ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã
ứng hiện tất cả mọi thần thông, háo thân thành trăm, ngàn, vạn hình hài cứu độ
được vô số chúng sinh. Trải qua vô lượng kiếp luân hồi, chúng sinh được độ đã
nhiều như Hằng hà sa số (3). Thế nhưng khi nhìn lại thế gian, ngài vẫn thấy hãy
còn thiên vạn chúng sinh đang ngụp lặn trong si mê, trầm luân, trụy lạc; vẫn
hãy còn vô số chúng sinh đang chịu những khổ nạn tai ách; và những chúng sinh
đang tạo ác nghiệp cũng động như cỏ kiến. Từ đó ngài suy diễn ra, nếu cứ tiếp tục
luân hồi mãi mãi, thì nỗi đau đớn của chúng sinh sẽ còn tái diễn liên miên, sự
việc độ trì chúng sinh do đó sẽ không bao giờ chấm dứt. Nghĩ đến đây, Quán Thế
Âm Bồ Tát cảm thấy phiền não. Ngài nghĩ rằng: “Cái khổ của chúng sinh là do
chúng sinh mà ra. Khi thế gian còn tồn tại thì nỗi khổ của chúng sinh sẽ không
bao giờ chấm dứt mà ta thì sẽ không bao giờ độ cho hết được. Lời thề ngày nào
là do ta tự làm khổ lấy ta thôi. Nếu như đối với chúng sinh không có ích lợi,
thì ta còn kiên trì với lời thề làm chi?”
Thương thay, khi ý nghĩ thối lui của Quán Thế Âm Bồ
Tát vừa chợt xuất hiện thì lời thề của ngài tức thì phản ứng. Xương sọ của ngài
tự nhiên nứt vỡ thành muôn ngàn mảnh, tản mác ra như một đóa hoa sen trăm cánh.
Đồng thời Phật A Di Đà cũng từ trong chiếc sọ rạn nứt này hiện thân (4) ngài
nói với Quán Thế Âm Bồ Tát rằng:
“Thiện
tai Quán Thế Âm, lời thề không thể bỏ, nuốt lời là đại tội. Những việc thiện
trước đây, đều trôi theo dòng nước.
Khuyên ngươi tiếp tục tu, nguyện ước tự nhiên thành.
Tam thế cùng thập phương (5), chư Phật cùng Bồ Tát, sẽ hết sức giúp cho, thành
công đã đến gần”.
Sau đó Đức Phật A Di Đà đã truyền cho ngài khẩu huyết
Lục Tự Thần Chú. Quán Thế Âm Bồ Tát sau khi nghe niệm Lục Tự Chân Ngôn, ngài đạt
được đại trí tuệ, sinh đại giác ngộ, và tiếp tục giữ lấy lời thề mà không lùi
bước. Chúng ta biết rằng Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Từ Bi, là vị Bồ Tát có thiên thủ
thiên nhãn, cứu khổ cứu nạn, linh cảm, linh ứng. Lực lượng của ngài có được là
nhờ vào quyền năng Lục Tự Chân Ngôn của Phật A Di Đà truyền cho. Cũng từ sự
tích này mà Lục Tự Chân Ngôn còn được gọi là Quán Âm Tâm Chú.
Đây là một huyền thoại rất cảm động, não bộ nứt ra
trăm ngàn mảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát nở thành đóa hoa sen ngàn cánh. Đó chính
là sự tượng trưng đẹp đẽ nhất của Lục Tự Chân Ngôn. Trong số chúng sinh chúng
ta, có bao nhiêu người nuôi được ý chí hủy hoại thân xác phàm trần hiện hữu
thành tro bụi để nuôi dưỡng cho một đóa hoa sen được ung dung nở trong tim óc mọi
người.
Nhớ lại lần đầu tiên khi nghe xướng âm Lục Tự Chân
Ngôn, thanh âm trầm hùng, trang nghiêm đơn thuần, thanh tịnh đó đã khiến cho
tôi cảm động rơi nước mắt. Có thể nói rằng trên thế gian không có một thanh âm
nào dõng dạc, tràn đầy lực lượng như câu thần chú này. Thật là:
Một tấm lòng trong sáng,
Hoa sen nở rộn ràng,
Sen nở vùng đất sạch,
Trên ngự một Như Lai.
Chú thích:
(2) Tam Bảo:
Phật Pháp Tăng gọi chung là Tam Bảo. Phật tượng trưng cho từ bi chánh nghĩa.
Pháp là lời của Phật dạy hay còn được ghi chép lại thành kinh điển. Tăng là người
tu hành, có nhiệm vụ diễn dịch và giảng dạy những ý nghĩa trong kinh điển cho
tín đồ.
(3) Hằng hà sa số: Hằng Hà là tên một con sông lớn của
xứ Phật Ấn Độ. Hạ lưu dòng sông này cũng là nơi Phật Giáo khai sinh và phát triển.
Phù sa sông Hằng nhiều vô số kể và đã nuôi dưỡng không biết bao nhiêu dân chúng
Ấn Độ. Vì vậy kinh điển Phật Giáo thường dùng số lượng phù sa của sông Hằng để
nói lên cái số nhiều không đếm xuể được.
(4) Hiện thân A Di Đà Phật: Từ sự tích trên đây, mà
bây giờ những hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát đều đội mão, và chính giữa chiếc
mão có một tượng Phật A Di Đà. Đây cũng là cách nhìn vào để phân biệt giữa Quán
Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát.
(5) Thập phương: từ chữ thập phương thế giới, thập
phương chỉ đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và
dưới. Phật Giáo chủ trương có thập phương vô số thế giới gọi là Thập phương thế
giới. Trong số thế giới đó có chư Phật và chúng sinh nên còn gọi là Thập phương
Chư Phật và Thập phương chúng sinh.
-ST-