Tự lực và Tha lực trong Cầu
nguyện
Chúng ta biết rằng khi ta có một đường dây điện thoại, muốn cho điện
thoại của chúng ta có thể sử dụng được, thì trong đường dây đó phải có điện.
Cũng giống như khi mình sử dụng máy quạt, tủ lạnh, hay bóng đèn, thì trong dây
điện phải có dòng điện chạy qua. Sự cầu nguyện cũng vậy. Trong lúc cầu nguyện
phải có một năng lượng. Năng lượng đó là đức tin, là tình thương yêu. Nếu cầu
nguyện mà không có năng lượng của đức tin và của tình thương thì cũng giống như
một đường dây không có điện, hành động cầu nguyện sẽ không đưa tới một kết quả
nào hết.
Trong đạo Bụt, chúng ta có danh từ tụng kinh. Tụng kinh có nghĩa là ôn
lại, đọc lại những lời Bụt dạy. Có khi chúng ta tụng một mình, có khi chúng ta
tụng với tăng thân. Có khi chúng ta tụng thầm, có khi chúng ta tụng thành tiếng.
Có lúc trong khi tụng, ta có năng lượng của chánh niệm, của đức tin, của tình
thương. Có lúc chúng ta tụng như những con vẹt, chỉ để ý đến âm điệu ngân nga của
câu kinh tiếng kệ, mà không để ý gì đến nghĩa lý của lời kinh.
Ta nên tự hỏi tụng kinh để làm
gì?
Trước hết, tụng kinh là để chúng ta có cơ hội tiếp xúc với lời Bụt dạy,
tiếp xúc với tuệ giác của Bụt. Đồng thời ta có dịp tưới tẩm những hạt giống đẹp,
lành, và tươi tốt ở trong ta.
Tụng kinh như thế có thể gọi là cầu nguyện hay không? Nếu chúng ta hiểu
chữ cầu nguyện theo nghĩa sâu của nó thì chúng ta có thể nói rằng tụng kinh
cũng là cầu nguyện. Đúng vậy, tụng kinh là cầu nguyện, vì ngoài những kinh văn,
chúng ta còn có những bài có tính cách cầu nguyện hơn, như là bài Nguyện trú
cát tường, dạ cát tường, Trú dạ lục thời hằng cát tường – (Nguyện ngày an lành,
đêm an lành, Đêm ngày sáu thời đều an lành). Đó là một ước mơ, đó là một lời cầu
nguyện.
Nhưng hành động cầu nguyện này không phải là một sự mơ ước suông, tại
vì đứng sau lưng của lời cầu nguyện đó có một sự thực tập: Sự thực tập trì tụng
kinh chú, và thực tập chánh niệm. Thành ra lời cầu nguyện này không hoàn toàn
căn cứ trên tha lực. Nó có căn cứ trên tự lực, và ta biết rằng khi không có tự
lực thì cũng không có tha lực.
Trong bài Hồi Hướng Tiêu Trừ Nghiệp Chướng có câu:
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí tuệ chân minh liễu.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não, đó là một ước mơ, và mình đưa ước
mơ ấy hướng về Bụt, để Bụt có thể giúp cho mình tiêu trừ được tam chướng, thoát
ra khỏi những phiền não, và đạt tới cái trí tuệ có thể thấy được chân tướng của
sự vật.
Khi đọc những câu kinh này chúng ta biết rằng đây không phải là chuyện
khoán trắng cho một người ở ngoài ta. Chúng ta biết sở dĩ chúng ta mở miệng ra
và đọc:
Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não,
Nguyện đắc trí tuệ chân minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo, là vì chúng ta đang thực tập theo những
lời dạy của đức Thế Tôn, của các vị Bồ tát, cho nên chúng ta mới có được cái thế
đứng để có thể cầu nguyện như vậy. Như vậy là chúng ta đang phối hợp thế đứng của
tự lực với thế đứng của tha lực.
Rõ ràng hơn nữa, chúng ta hãy nhắc lại một vài câu trong bài Đệ tử
kính lạy, một bài tụng rất phổ biến ở Việt-nam, mà Phật tử người lớn cũng như
các em trong Gia đình Phật tử đều thuộc lòng:
Đệ tử lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp chướng nặng nề,
Tham, giận, kiêu căng,
Si, mê, lầm, lạc,
Ngày nay nhờ Phật,
Biết sự lỗi lầm,
Thành tâm sám hối.
Đó là một lời cầu nguyện hay không phải là một lời cầu nguyện? Không,
đây mới chỉ là một sự soi chiếu, một sự soi gương để có được tuệ giác về sự thật
đã xảy ra cho mình. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, Nghiệp chướng nặng nề, Tham, giận,
kiêu căng, si, mê, lầm, lạc. Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm. Thành tâm sám
hối. Đó mới chỉ là sự hành trì, chưa phải là lời cầu nguyện. Đó mới là đem ánh
sáng chánh niệm soi chiếu vào tình trạng của mình, để mình thấy rằng trong quá
khứ mình đã có những vụng dại và lỗi lầm, và nay nhờ ánh sáng từ bi của Bụt mà
mình thấy được những vụng dại và lỗi lầm đó, rồi mình quyết tâm sẽ không tiếp tục
làm như thế nữa. Đó mới chỉ là một sự thực tập.
Thề tránh điều dữ, Nguyện làm việc lành (bản chữ Hán là Chư ác mạc
tác, Chúng thiện phụng hành). Những câu này là để ghi nhận rằng nhờ thấy được
giáo lý của Bụt người hành giả nguyện áp dụng giáo lý ấy vào cuộc sống. Kế đến
mới là lời cầu nguyện:
Ngưỡng trông ơn Phật,
Từ bi gia hộ,
Thân không tật bệnh,
Tâm không phiền não.
Tu tập cũng như cầu nguyện, là để cho hai mặt của sự sống của mình là
thân và tâm đều được an lành. Nhưng muốn Thân không tật bệnh, Tâm không phiền
não là để làm gì? Không phải để chạy theo dục vọng, mà để:
Ngày ngày an vui,
Tu tập phép Phật nhiệm mầu,
Để mau ra khỏi luân hồi.
Ta cầu nguyện như vậy đó. Cầu cho thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, là để hàng ngày có thể an vui tu tập phép Bụt nhiệm mầu mà thoát khỏi luân
hồi; tu tập để đạt tới sự minh tâm kiến tánh mà độ thoát cho mọi loài chúng
sanh. Đó là một lời đại nguyện.
Bài Đệ tử kính lạy là một bài tiêu biểu cho tinh thần cầu nguyện của đạo
Bụt. Cầu nguyện nhưng tất cả đều căn cứ trên sự hành trì tu tập của mình. Y vào
tự lực nhưng cũng y vào tha lực, tại vì ta biết rằng nếu không có tự lực thì
tha lực cũng không có.
Ranh giới giữa tự và tha là cái mà mình phải quán chiếu. Chỗ nào là chỗ
chấm dứt cái tự, và chỗ nào là chỗ bắt đầu của cái tha? Đó là một câu hỏi rất lớn,
nó thuộc về câu hỏi thứ năm: Cầu ai? Ai là người mình cầu nguyện?
Trong đạo Bụt, có thể câu hỏi đó (Đối tượng của cầu nguyện là ai?) là
câu hỏi căn bản. Nếu chúng ta tìm được lời giải đáp của câu hỏi này thì đối với
những câu hỏi khác, chúng ta có thể giải quyết được một cách không khó khăn gì.
Trong truyền thống tu tập của người Phật tử, mỗi khi chắp tay lại trước
đối tượng của sự lễ bái, chúng ta phải quán chiếu để biết mình là ai, và người
ngồi hoặc đứng trước mặt mình mà mình sắp lạy là ai. Trước hết ta phải thấy giữa
hai ta có liên hệ gì với nhau, giữa ta với Bụt có liên hệ gì với nhau, rồi ta mới
nên lạy xuống.
Nếu anh tưởng rằng Bụt là một thực tại hoàn toàn biệt lập với anh,
không dính líu gì tới anh cả, anh đứng ở dưới này, còn Bụt ngồi ở trên kia, rồi
anh lạy xuống, thì cái lạy của anh không đúng chánh pháp, tại vì cái lạy của
anh căn cứ trên một tà kiến gọi là Ngã. Bụt có một cái ngã riêng biệt, hoàn
toàn khác với anh, và anh có một cái ngã riêng biệt hoàn toàn khác với Bụt. Cái
lạy đó là một cái lạy mê tín!
Khi đứng chắp tay trước đức Thế Tôn, mình phải quán tưởng. Vì cái hình
tượng dù làm bằng đồng, bằng ciment, bằng ngọc thạch, hay bằng kim cương, cũng
đều không hẳn là đức Thế Tôn. Đó chỉ là một biểu tượng mà thôi. Tượng đó giống
như có mặt ở ngoài ta, nhưng đức Thế Tôn thì không phải như vậy. Đức Thế Tôn
hay là Bồ tát Quán Thế Âm không phải là những thực tại nằm ngoài ta như là một
tượng đá hay một tượng đồng. Cho nên để tránh thoát, để đừng bị kẹt vào cái
quan niệm sai lầm ngã chấp của sự kính lạy, chúng ta phải quán tưởng.
Chúng ta bắt đầu sự quán tưởng bằng câu Năng lễ sở lễ tánh không tịch.
Nếu mình là một chú bé 16 tuổi, mới đi tu, đọc câu đó trước khi lạy xuống, thì
mình chưa hiểu được nghĩa lý của nó. Nhưng vì thầy dạy mình phải học thuộc câu
đó, cho nên mình học để đọc trước khi lạy vậy thôi. Có thể là 10 năm hay 20 năm
sau, mình mới có tuệ giác để đọc câu này một cách sâu sắc.
Năng lễ sở lễ tánh không tịch, có nghĩa là người lạy và người được lạy,
cả hai đều có tánh cách trống rỗng. Một tín hữu Cơ-đốc giáo mà nghe điều này
thì có thể sẽ rất lấy làm lạ, và có thể rùng mình! Tại sao một tín đồ mà lại
dám nói với vị Giáo chủ của mình: Ngài là rỗng, Ngài không có một cái ngã riêng
biệt?
Đúng vậy, câu này có nghĩa là thể tính của Bụt và của chúng sanh, đều
là rỗng, đều là lặng. Hòa thượng Thiện Siêu dịch câu này là Phật, chúng sanh
tánh thường rỗng lặng. Nhưng dịch ra tiếng Việt như thế rồi, đọc mìmh vẫn không
hiểu như thường! Trong cuốn Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy, chúng ta có một
bản dịch ý của bài Quán tưởng về lạy này[2] . Người lạy và người được lạy, cả
hai đều không có bản chất riêng biệt. Mình và Bụt không phải là hai thực thể
riêng biệt. Mình ở trong Bụt và Bụt ở trong mình, phải thấy cho được điều đó
trước khi lạy xuống.
Đây là một điểm rất đặc biệt của đạo Bụt. Những hạt giống của tuệ giác
này có thể có mặt trong truyền thống Cơ-đốc giáo, và trong các tôn giáo khác,
nhưng đã không biểu lộ ra một cách quá rõ rệt như trong đạo Bụt.
Năng lễ là người lạy, Ce lui qui fait la prosternation. Sở lễ là người
được lạy, Ce lui qui reçoit la prosternation. Cả hai đều rỗng ruột, nghĩa là cả
hai đều không có một cái ngã riêng biệt. Hai ta có dính líu tới nhau.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
[2] Xem Thương Yêu theo Phương Pháp Bụt dạy, Nhất Hạnh, Lá Bối, Walnut
Creek, USA, 1995, tr. 192.