Chuyện xưa ở huyện Đông Triều, Quảng Ninh, nhắn nhủ
thế nhân rằng tín Thần, tín Phật cũng phải minh bạch. Chỉ dựa vào cúng bái xì xụp,
mâm cao cỗ đầy mà được linh ứng ngay, hẳn có ẩn tình.
Được mệnh danh là “Thiên cổ kỳ bút”, Truyền Kỳ Mạn
Lục của Nguyễn Dữ (sống vào khoảng thế kỷ 16) ghi lại những câu chuyện bí ẩn
hàm chứa các bài học đạo đức dựa trên giá trị phổ quát vẫn luôn đúng cho tới
ngày nay. Đa phần người thời nay nói đó là tác phẩm văn học hư cấu, người có đức
tin lại xem như lời nhắc nhở chân thật về đạo làm người. Trong dòng chảy mải miết
và dữ dội của lịch sử, những gì còn lưu lại chẳng phải vô duyên vô cớ, phần nhiều
đều có đạo lý ở trong đó.
Thời nhà Trần, đạo Phật rất phát triển, chùa quán
được dựng lên khắp nơi. Đặc biệt huyện Đông Triều (nay vẫn là Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh), làng lớn nhỏ đều có rất nhiều chùa, xem chừng linh ứng nên dân
chúng phàm người đau ốm đều lập đàn tràng cúng vái nhộn nhịp.
Đến thời vua Giản Định nhà Trần (niên hiệu Hưng
Khánh), do binh lửa liên miên nên hầu hết chùa chiền ở Đông Triều đã bị tàn phá
hoặc xiêu đổ, hoang phế. Sau khi quân Ngô rút lui, dân cư lại về làng phục nghiệp,
vị quan huyện mới nhậm chức là Văn Tư Lập đã cho dân đinh các làng phục hồi lại
chùa chiền.
Làm quan được một năm, Tư Lập thấy dân huyện khổ
vì cái nạn trộm cắp, từ gà lợn ngỗng ngan, đến cá trong ao, quả trong vườn,
phàm cái gì ăn được đều bị mất hết. Làm quan mà để dân chịu khổ, trước tiên phải
tự trách mình, Tư Lập than rằng:
“Ta ở vào địa vị một viên ấp tế, không có cái minh
để xét kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là
cái lỗi tự ta”.
Ông ra sức chỉ bảo các thôn đêm đêm phải canh
phòng cẩn mật , tuy nhiên nhiên canh một tuần, không thấy động tĩnh gì nhưng việc
trộm cắp không thuyên giảm. Thậm chí từ ăn cắp vặt đồ ăn, giờ chúng còn khoắng
hũ rượu nhà người ta, vào buồng ghẹo vợ con người ta. Lạ là khi mọi người vây bắt
thì kẻ gian đều biến đi đằng nào mất, không thấy tăm hơi.
Tư Lập cười mà nói:
“Té ra lâu nay ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kỳ thực đó
là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi”.
Sau đó ông mời các thầy phù thủy cao tay, xin bùa
yểm trấn, làm thuyền bè mã tống tiễn, nhưng cũng không có kết quả. Ông lại họp
dân thôn lại bàn rằng, mọi người trước đây vẫn thờ Phật kính cẩn, nay do việc
binh hỏa mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành, vậy nay
hãy năng đến chùa kêu cầu với Phật. Nhưng lạ thay, trộm cắp lại hoành hành dữ
hơn trước.
Tư Lập bèn mời người giỏi bói dịch là Vương tiên
sinh tới giúp. Vương nói Tư Lập nên đến chờ sẵn ở phía tả cổng huyện đường, thấy
người mặc áo vải đen, đeo cung tên, cưỡi ngựa từ trong rừng đi ra thì mời lại
giúp trừ tà. Hôm sau quan làm y lời ông Vương, nhưng khi mời người đó ở lại thì
ông ta lại từ chối vì bản thân chỉ là thợ săn. Tư Lập phải thuyết phục mãi, tiếp
đãi rất đối tử tế, kính cẩn, người này cũng thấy áy náy mà ở lại. Nhưng biết bản
thân không có khả năng diệt trừ yêu ma, nên đang đêm người này bỏ trốn.
Đang đi, ông này thấy mấy người dáng vóc to lớn từ
dưới đồng hiện ra. Họ kéo nhau xuống ao bắt cá ăn sống một cách ngon lành, còn
tỏ ra tiếc rẻ vì bấy lâu nay chỉ được ăn xôi oản ở chùa.
Một người nói: “Chúng mình thật to đầu mà dại, bấy
nay bị người đời chúng nó lừa dối, ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp
cái bụng nặng nghìn cân mà đi giữ của cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những
buổi như hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng”.
Kẻ khác lại nói: “Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không
ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có
gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải
qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không
được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ
này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân ngày xưa
(Hổ đầu tướng quân đời vua Tấn An Đế, mỗi lần ăn mía đều ăn từ ngọn xuống gốc)”.
Sau đó đám người rủ nhau lên vườn mía, nhổ trộm
mía mà hít hà. Người đàn ông đang ngồi nghe trộm đám người to lớn liền dương
cung bắn trúng hai người. Thấy tiếng kêu lớn, dân làng chạy tới, soi thấy dấu
máu, lần theo thì tới một cái chùa hoang. Bên trong có hai pho tượng Hộ pháp
xiêu vẹo, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên cắm sâu vào. Dân làng bèn hò
đẩy hai pho tượng, trong lúc đó vẫn còn nghe tiếng văng vẳng ai đó trách cứ vì
“lão thủy thần” nào đó mà gặp nạn.
Dân tới miếu Thủy thần, thấy pho tượng Thần đắp bằng
đất vẫn còn bám vẩy cá lèm nhèm trên mép, cũng lại phá hủy luôn pho tượng ấy.
Quan Tư Lập tạ ơn người bắn cung tên, từ đó huyện
không còn bóng tà yêu nữa.
***
Tín phụng Thần Phật là một việc nên làm, bởi người
có đức tin sẽ luôn sửa mình theo chính đạo, hoàn thiện bản thân, còn làm sáng
rõ được cái đức hiếu Thiện. Thế nhưng, đức tin cũng phải dựa trên sự minh bạch
chân tướng. Phật truyền Pháp tại thế gian, độ nhân là để cấp cho thế nhân một
con đường chính đạo, để con người biết tu sửa mình theo đó mà thăng hoa lên. Phật
nào chỉ nghe lời cầu khấn, vì chút hương oản mà độ nhân đây?
Chỉ có loài ma quái, lợi dụng tượng Thần, Phật
không còn Pháp thân trong đó, mà trú thân, làm ra chút phép màu từ tầng thứ thấp
của chúng để đổi lấy lợi ích. Con người lại lấy làm tín phụng cái sự linh ứng
thần kỳ ấy lắm, mà không tín phụng chính đạo, chính Pháp, không hiểu thấu lời dạy
mà tu thân sửa tâm.
Chẳng cứ như trong câu chuyện huyện Đông Triều từ
cái thời vua Giản Định (1375 – 1410), mấy trăm năm sau, con người càng mơ hồ
hơn trong việc tín phụng của mình. Có người ngày ngày tụng kinh tại gia, chăm
chỉ lễ chùa, nhưng đối với con dâu thì đay nghiến, mắng mỏ không tiếc lời ác tiếng
to. Có người cổ đeo hình Phật, tay lần tràng hạt nhưng lên chùa làm lễ mà bị
tranh mất chỗ thì vén tay áo lên mà chửi người giữa chùa. Có người mua chức
quan, tham ô tham nhũng, nhưng lễ Sóc Vọng nào cũng làm lễ lớn, làm từ thiện
cho chùa biết bao tiền mong cầu xin thêm đức, cứ như thể Thần Phật cũng nhận của
tham ô mà cấp phúc cho. Lại có người cúng cô hồn, quỷ phách ở cây đa cây si để
xin trúng lô tô, số đề. Có người bái lạy cô nọ, cậu kia để xin quý tử, cầu ý
trung nhân… Mang của cải, phúc đức của bản thân mà đánh đổi lấy một vài triển
hiện kỳ bí nhỏ nhoi, có lẽ đang tự mình rước cái mầm họa vào thân mà không biết.
Con người muốn trở về đất Phật, phải tự mình mà
tu, tự mình mà ngộ những lời Phật dạy. Sao có thể cứ hơi chịu khổ trả nghiệp một
chút là lại kêu Phật giúp. Sao có thể biếu xén Thần, Phật chút đồ là mong nhận
được lợi ích. Dựa vào những thứ hình thức đó mà không thực tu, lại muốn Phật
Pháp triển hiện điều siêu việt. Không tu sửa tâm tính, buông bỏ dục vọng, mà muốn
đắc được, nào có chuyện lạ đời vậy được.
-ST-
