THẬP LOẠI CHÚNG SINH

Thập Loại Chúng Sinh có nghĩa là toàn bộ tất thảy mọi loài chúng sinh, chứ chẳng phải là 10 loại chúng sinh. Trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Đại Thi Hào Nguyễn Du có đề cập đến một số loại cụ thể như là:

1. Cô hồn: Chỉ chung các hồn cô độc không nơi nương tựa, không thân thích.

2. Vương hầu khanh tướng: Người quyền thế có địa vị xã hội cao, có quân binh.

3. Phản thần tặc tử: Kẻ có quyền binh trong tay mưu phản gây loạn chiếm quyền.

4. Chiến sĩ: Người chiến đấu vì lý tưởng nào đó, có kỹ năng chiến đấu, thường bỏ mạng nơi chiến trường.

5. Binh tốt: Thường dân bị bắt làm lính, ít có kỹ năng chiến đấu.

6. Kỹ nữ: Người dùng kỹ nghệ, nhan sắc, thân thể mình bán vui mưu sinh.

7. Phu nhân: Vợ hoặc thân nhân của người có quyền cao chức trọng, có người hầu và quyền lực trong tay.

8. Cung nga: Cung nữ thấp cổ bé họng trong cung cấm, nữ hầu của các nhà quyền quý.

9. Phi tần: Ái thiếp của vua, có người hầu và quyền uy.

10. Vương hậu: Vợ chính của vua một nước, nắm toàn quyền hậu cung trong tay.

11. Văn sĩ: Người có tài năng văn chương, dùng bút làm lợi khí cho mình.

12. Thư sinh: Người có học thức nhưng chưa chắc được đời công nhận hoặc học thức ấy có ứng dụng được việc gì không.

13. Thương nhân phú gia: Người buôn bán, dành sức cả đời kiếm tiền, có tiền của nhiều.

14. Tiểu thương: Người buôn bán nhỏ, gánh hàng rong hoặc sạp, quầy.

15. Ngư phủ: Người đi sông biển đánh bắt thủy hải sản kiếm sống.

16. Quỷ hỏa: Lửa ma trơi.

17. Vô thủ quỷ: Người chết bị mất đầu.

18. Hành khất: Người đi ăn xin sống lay lất qua ngày nhờ sự bố thí của người khác.

19. Nịch tử giả, nịch quỷ: Người bị chết chìm dưới nước ở sông biển, ao hồ.

20. Lạc thụ tử giả, lạc thụ quỷ: Người bị chết do té cây.

21. Lạc tỉnh tử giả, lạc tỉnh quỷ: Người bị chết do té giếng.

22. Đồng tử, tiểu quỷ: Đứa trẻ bị sẩy thai hoặc bị phá bỏ, hoặc trẻ chết khi từ 12 tuổi trở xuống.

23. Sản nữ, mẫu tử quỷ: Người mẹ chết lúc sinh con hoặc đang mang thai.

24. Oan hình nạn giả: Người bị ghép tội oan uổng, cầm tù rồi chết khi chưa được giải oan.

25. Hỏa tai nạn giả: Người bị chết do nạn lửa cháy.

26. Tinh quái nạn giả: Người bị chết do sơn tinh thủy quái, tà linh tinh quái sát hại.

27. Hung thú nạn giả: Người bị chết do thú dữ tấn công.

28. Hồng thủy nạn giả: Người bị chết do nạn lũ lụt cuốn trôi.

29. Đồng hoang chi linh: Âm linh cư ngụ nơi đồng hoang.

30. Mộ hoang chi linh: Âm linh cư ngụ ở mộ hoang.

31. Trúc tùng chi linh: Âm linh cư ngụ ở bụi tre trúc.

32. Thảo tùng chi linh: Âm linh cu ngụ ở bụi cỏ lùm cây.

33. Thụ ảnh chi linh: Âm linh cư ngụ dưới bóng râm của cây lớn.

34. Phố thị chi linh: Âm linh cư ngụ ở nơi phố chợ.

35. Khách điếm chi linh: Âm linh cư ngụ ở quán trọ, hàng quán xá.

36. Thánh sở chi linh: Âm linh cư ngụ ở chùa chiền đền miếu.

37. Kiều hạ chi linh: Âm linh cư ngụ ở dưới gầm cầu có bóng râm.

38. Giang hà chi linh: Âm linh cư ngụ ở miền sông nước.

39. Bộc bố chi linh: Âm linh cư ngụ ở nơi thác nước.

40. Vân sơn chi linh: Âm linh cư ngụ ở nơi đồi núi cao có mây lãng đãng.

Bốn mươi chủng loại Quỷ Hồn nói trên là đại khái các dạng người chúng ta thường thấy biết trong cuộc sống xã hội, còn rất nhiều chủng loại khác nữa của loài người khi chết hóa thành Quỷ Hồn. Mỗi loại bên trên, khi đủ duyên tác giả sẽ chia sẻ thêm thông tin chi tiết ở từng chuyên mục riêng biệt. Các chủng loại này trong nhóm chúng sinh là loài người, chưa đề cập đến các chủng loại chúng sinh các loài cầm thú, thảo mộc, kim thạch.

Mến chúc quý vị cùng thân bằng quyến thuộc, Cửu Huyền Thất Tổ có một mùa Vu Lan Báo Hiếu ấm áp, một tháng 7 bình yên no đủ và an lạc, tịnh tâm tinh tấn. Cầu chúc cho Thập Loại Chúng Sinh, Đẳng Đẳng Chân Hồn các cấp trong Tam Giới được tinh tấn, buông xả các vướng mắc chấp niệm khổ đau của mình để chuyển hóa tâm tình an lạc hơn, tinh tấn hơn…

Ngoài ra, trong bài viết này, tác giả cũng chia sẻ thêm bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Đại Thi Hào Nguyễn Du. Đây là vị đã chứng đắc quả vị nơi cõi thiêng liêng hằng sinh là Nguyệt Tâm Chân Nhân, cư ngụ nơi Bạch Vân Động, tầng không gian Thượng Giới ở Nguyệt Tinh.

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt

Toát hơi may lạnh buốt xương khô

Não người thay buổi chiều thu

Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

Đường bạch dương bóng chiều man mác

Ngọn đường lê lác đác sương sa

Lòng nào là chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất

Có khôn thiêng phảng phất u minh

Thương thay thập loại chúng sinh

Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa

Hồn mồ côi lần lữa đêm đen

Còn chi ai quý ai hèn

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát

Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

Muôn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh

Chí những lăm cướp gánh non sông

Nói chi những buổi tranh hùng

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở

Khôn đem mình làm đứa sất phu

Lớn sang giàu nặng oán thù

Máu tươi lai láng xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc

Quỷ không đầu than khóc đêm mưa

Cho hay thành bại là cơ

Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ

Những cậy mình cung quế Hằng Nga

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?

Trên lầu cao dưới cầu nước chảy

Phận đã đành trâm gãy bình rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói

Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim

Thương thay chân yếu tay mềm

Càng năm càng héo một đêm một rầu.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng

Ngọn bút son thác sống ở tay

Kinh luân găm một túi đầy

Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh

Nghìn vàng khôn đổi được mình

Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Dãi thây trăm họ nên công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Bơ vơ góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

Ruột rà không kẻ chí thân

Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù du dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc ròng

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý

Dấn mình vào thành thị lân la

Mấy thu lìa cửa lìa nhà

Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng

Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

Cô hồn nhờ gửi tha phương

Gió trăng hiu hắt lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể

Cánh buồm mây chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín rạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan

Nước khe cơm ống gian nan

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác

Phận đã đành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Đâu chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu rách một manh

Nắm xương chôn rấp góc thành

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Cũng có người sẩy cối sa cây

Có người leo giếng đứt dây

Người trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì sa nanh sói ngà voi

Có người hay đẻ không nuôi

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là bụi cỏ bóng cây

Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương Thần từ, Phật tự

Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong quãng đồng không

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết

Gan héo khô dạ rét căm căm

Dãi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trên sương.

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra

Lôi thôi bồng trẻ dắt già

Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

Phóng hào quang cứu khổ độ u

Rắp hòa tứ hải quần chu

Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.

Nhờ Đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân Tam Giới thập phương

Nhân nhân Tiêu Diện Đại Vương

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào?

Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh

Có chữ rằng: Vạn cảnh giai không

Ai ơi lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

Của có chi bát cháo nén nhang

Gọi là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu

Phép thiêng biến ít thành nhiều

Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ

Chớ ngại rằng có có không không

Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng

Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

Nguyễn Du

 

▪ Ý nghĩa

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh còn được gọi là Văn Chiêu Hồn hay Văn Tế Chiêu Hồn.

Hành giả thường trì tụng bản kinh văn này để cúng thí thực cho những vong linh còn đang đau khổ bởi các chấp niệm sâu dày của mình. Nhờ vậy mà họ được hồi hướng, tâm tình dần tịnh lặng an yên, chuyển hóa các nhân duyên bất thiện thành thiện lành, chuyển sinh về những cõi an lành thanh tịnh. Việc tưởng nhớ, quan tâm này cũng giúp cho người hành trì khai mở lòng từ bi, biết thương xót chúng sinh, muôn đẳng chân hồn khắp nơi còn đang mờ mịt vì u mê.

Cúng thí thực là hành động chuẩn bị đồ ăn, thức uống nhằm lan tỏa tình yêu thương, sự quan tâm sẻ chia dành cho những người đã khuất, các bạn âm linh trong vô hình. Vậy nên chỉ cần người cúng có tâm thành yêu thương, thì bất cứ khi nào cũng có thể cúng thí thực, không cần phải vào dịp đặc biệt. Sau khi nấu ăn, trước khi ăn, hay đi đường thấy có món gì ngon, đều có thể chuẩn bị bàn lễ mời các bạn cùng dùng bữa. Cúng thí thực là như thế, chỉ đơn giản là quan tâm yêu thương thì làm, như cách chúng ta thấy món gì ngon, hấp dẫn, đều nghĩ đến những người thân thương của chúng ta ở nhà, mua về một ít để cùng dùng bữa với họ.

Việc cúng thí thực chỉ cần mộc mạc thôi, vài món chay hoặc bánh, trái cây tuỳ thích, cùng vài tách trà, chén nước trên một bàn lễ thân mật có nhang đèn được chuẩn bị bằng tất cả sự quan tâm chân thành. Bởi các bạn âm linh không ăn vật thực, mà chỉ cảm thấy “no” hơn, ấm áp, an lạc hơn bởi chính tâm tình yêu thương, quan tâm sẻ chia của người sống dành cho mình. Nhờ vậy mà các bạn ấy sẽ bớt cô đơn, đau khổ, cảm thấy yên lòng vì còn có người nhớ thăm, quan tâm đến mình.

Sau khi chuẩn bị vật phẩm, bàn lễ xong thì chúng ta mời các bạn đến dùng. Trong quá trình cúng thí thực, chúng ta có thể đọc Kinh Giải Oan, Kinh Cầu Siêu, Kinh Cứu Khổ, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, Văn Tế Chiến Sĩ... cũng như cầu nguyện cho các bạn âm linh hồi hướng về Đạo Pháp, sớm ngày an lạc, chuyển sinh về cõi lành.

Thức uống, đồ ăn chay sau khi cúng xong chúng ta có thể dùng như bình thường. Trước khi lấy xuống dùng thì cũng không quên xá, chào tạm biệt các bạn. Khi cúng gạo, hay bánh trái thì nên đựng trong tô, chén, dĩa chứ không nên rải khắp nơi trên nền đất tránh lãng phí. Sau khi cúng có thể dùng để nấu ăn, hay cho các loài vật khác ăn.

-ST-