Xưa nay, các bậc thầy phong thuỷ như ‘Thánh địa
lý’ Tả Ao hay ‘Phù thuỷ’ Cao Biền đều là những cao nhân hiếm thấy, trên có thể
hô mưa gọi gió, dưới có thể yểm mạch tầm long, lợi dụng thuật pháp mà làm hưng
vượng hay suy bại một quốc gia… Nhưng vì sao họ lại không thể làm chủ được vận
mệnh của chính mình?
Huyền thoại Thánh Tả Ao
Nhắc đến phong thuỷ thì không thể không nhắc đến
ngài Tả Ao, bậc thầy địa lý của nước ta, về tài năng ông ta không hề thua kém
huyền thoại Cao Biền của phương Bắc. Theo cuốn “Nam Hải dị nhân” của tác giả
Phan Kế Bính, Tả Ao tên thật là Nguyễn Đức Huyền (cũng có tài liệu viết là Vũ Đức
Huyền), là người làng Tả Ao, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, tức huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh.
Thuở nhỏ mồ côi cha, vì mẹ mắc bệnh loà mắt, nhà lại
nghèo, cậu bé Đức Huyền phải theo khách buôn sang Tàu lấy thuốc về chữa mắt cho
mẹ. Thầy thuốc thấy cậu bé nghèo hiếu thảo nên hết lòng dạy nghề lang dược. Về
sau, nhờ chữa khỏi mắt cho một ông thầy địa lý phương Bắc, nên Đức Huyền lại được
thầy địa lý truyền thuật phong thuỷ cho.
Một ngày, ông thầy muốn thử thách Đức Huyền bèn đổ
cát thành hình núi sông rồi vùi 100 đồng tiền xuống các huyệt đạo, bảo cậu học
trò hễ tìm thấy huyệt thì xuyên kim xuống. Đức Huyền đã cắm đúng lỗ (chính huyệt)
99 đồng tiền, chỉ duy có huyệt thứ 100 là cây kim cắm chệch ra ngoài. Thấy vậy
thầy địa lý than rằng: “Thế là tinh hoa địa lý đã về phương Nam mất rồi!”.
Và quả đúng là danh bất hư truyền, Đức Huyền sau
này đã trở thành bậc thầy phong thuỷ, được mọi người kính cẩn gọi là ‘Thánh Tả
Ao’. Ông vân du khắp nơi, từ miền xuôi đến miền ngược, từ vùng núi đến nơi đồng
bằng đất đai màu mỡ, một là chữa bệnh cho người, hai là xem xét thế đất, tầm cứu
long mạch, cuối cùng cũng là để giúp đời. Từ mỗi vùng đất ông đi qua đều viết
nên huyền thoại, mà đến nay dân gian vẫn lưu truyền.
Một trong những câu chuyện ấy là huyền thoại giếng
mắt cá làng Hành Thiện ở Xuân Trường, Nam Định. Người dân làng Hành Thiện kể rằng,
một lần đi qua phủ Xuân Trường, Tả Ao phải đi đò sang sông, đến gần bến thì phải
lội xuống bùn mới lên được bờ. Lúc ấy người khách đi cùng chuyến đò đã hào hiệp
cõng ông qua quãng lầy lội, sau ông lại được người dân Hành Thiện khoản đãi nồng
hậu. Cảm mến dân làng hào phóng, trượng nghĩa, lại mến khách, Tả Ao liền ngỏ ý
xem xét thế đất cho.
Tả Ao nói: “Kìa, các ngài xem, kiểu đất làng này rất
đẹp, chẳng khác gì hình con cá đang quẫy đuôi tung mình ra biển. Cụm dân cư chỗ
kia là đầu và mình cá, còn cánh đồng kia là khúc đuôi. Sau này kết phát, khúc
đuôi đó sẽ nở to dần, do đất phù sa ở con sông kìa bồi vào. Lại nữa, những con
lạch bao bọc quanh làng là mạch nước nuôi sống con cá, quanh năm chẳng bao giờ
bị cạn, nhờ đó dân trong làng được thịnh vượng, làm ăn phát đạt, ít bệnh tật, ốm
yếu. Chỉ hiềm một nỗi là con cá không có mắt, nên đến giờ làng vẫn không thể phát
khoa danh”.
Dân làng nghe vậy, bèn hậu đãi trà rượu và khẩn
khoản xin ngài Tả Ao đặt lại hướng cho làng. Tả Ao đứng ngắm hướng, rồi tới chỗ
mỏm đất trước cửa đền Thần Hoàng, nói rằng vì con cá còn thiếu mắt, nên cần đào
giếng làm mắt cá. Giếng nước này rất thiêng, cần phải giữ sạch sẽ, được vậy thì
trong làng ắt có người làm thầy, làm quan, giàu có nhất vùng.
Quả nhiên từ ngày đào giếng ‘mắt cá’, làng Hành
Thiện ngày càng thịnh phát, nổi tiếng là ngôi làng Nho gia, nam thì học hành
thi cử đỗ đạt, nữ thì dệt lụa ươm tơ khéo léo. Người dân quanh vùng vẫn dùng
câu “Trai học hành, gái canh cửi”, hay “Đậu phụ Thuỷ Nhai, tú tài Hành Thiện” để
nói rằng ở Hành Thiện có nhiều khoa bảng, gia đình nào cũng có người đỗ tú tài.
Phong thuỷ không thoát khỏi mệnh Trời
Mặc dù trong suốt cuộc đời mình, ngài Tả Ao đã
giúp nhiều vùng đất được hưng thịnh, nhiều gia đình phát lộc, nhiều hiền nhân
phát tài, nhưng đối với cá nhân ông dẫu có dày công tầm cứu long mạch đến đâu
thì cuối cùng, cũng không thể cải biến được mệnh Trời.
Cuốn “Nam Hải dị nhân” kể rằng, khi ngài Tả Ao học
địa lý thành tài, trước khi chia tay thầy để trở về cố hương, ông đã được thầy
căn dặn: Về đến nước Nam, nhớ đừng lên núi Hồng Lĩnh. Nhưng một lần qua Hồng
Lĩnh, ông tò mò bèn trèo lên xem thử, thì ra đó là huyệt “Cửu long tranh châu”
(chín rồng tranh ngọc), chính là huyệt đế vương vô cùng quý hiếm. Ông bèn đưa mộ
cha về an táng trên núi.
Ít lâu sau, vợ ông sinh được một con trai. Cùng
lúc ấy các thầy thiên văn phương Bắc phát hiện thấy có nhiều vì tinh tú cùng chầu
về nước Nam. Nhà Minh thấy vậy, vội truyền lệnh cho các thầy địa lý phải sang
tìm mà phá đi, nếu không sẽ tru di tam tộc. Thầy dạy của Tả Ao biết rằng chỉ có
học trò mình mới làm được điều này, bèn sai con trai sang “đoái công chuộc tội”.
Con trai ông thầy sau khi điều tra kỹ lưỡng đã yểm
phá huyệt đạo, rồi bắt con trai cả của Tả Ao mang về Bắc quốc, khi ông nhận ra
thì đã quá muộn màng.
Đến lúc thân mẫu qua đời, Tả Ao đã lặn lội tìm thế
đất Hàm Rồng ở mãi ngoài hải đảo để an táng mẹ. Đến ngày giờ đã định thì bỗng
nhiên sóng to gió lớn nổi lên, đến khi trời yên bể lặng ở đó nổi lên một bãi bồi.
Tả Ao biết ý Trời không thuận, bèn than rằng: “500 năm rồng mới há miệng trong
một lần một khắc, Trời đã không cho thì đúng là số rồi”.
Lại có giai thoại kể rằng, một lần đi qua làng
Thiên Mỗ, ngài Tả Ao thấy có ngôi đất to, biết là huyệt quý, nên định chọn đất
táng hộ cho nhà họ Trần. Nhưng không hiểu sao tróc long của ông không đặt được
xuống đất, hễ đặt là đổ, ông bèn gọi Thổ thần lên hỏi. Thổ thần trả lời rằng:
“Đất này phát ba đời quốc sư đại vương, con cháu công hầu không bao giờ hết.
Thiên thượng đã để dành cho nhà họ Nguyễn, còn nhà họ Trần kia ít phúc, không xứng
để được đất này, nếu ông cưỡng mệnh Trời thì tất có tai vạ. Vả lại ông đi khắp
thiên hạ, làm phúc cho người ta đã nhiều, mà không được ngôi nào để táng cho
cha mẹ, ông nên nghĩ thế thì biết”.
Tả Ao lĩnh chỉ ý Thần, hiểu rằng phúc là từ đức mà
ra, tài lộc nhiều hay ít cũng là do đức dày hay mỏng. Vậy mới nói ‘phong thuỷ
chỉ dưỡng người tích thiện’, thầy địa lý dẫu cao tay đến đâu cũng không thể dựa
vào phong thuỷ để thay đổi mệnh Trời.
Trước là tích đức, sau là tìm long
Những năm cuối đời Tả Ao chu du khắp thiên hạ,
không màng danh lợi, không ham phú quý công danh, mà mượn phong thuỷ để giúp
người thiện đức. Người đời vẫn thắc mắc vì sao Tả Ao tài thuật như vậy mà không
truyền nghề cho con cháu, để con cháu phát tài phát lộc, nở mặt nở mày với bàn
dân thiên hạ? Có người giải thích rằng là do ông thầy phương Bắc yểm bùa, nên
gia đình của Tả Ao mới gặp nhiều biến cố như vậy. Nhưng trong lòng ông hiểu rằng
gia cảnh mình bần hàn, con cháu của mình cơ cực ấy đều có nguyên do.
Cũng giống như “thầy phù thuỷ” Cao Biền từng cưỡi
mây lướt gió, tản đậu thành binh, lừng lẫy là ngài Tiết độ sứ uy phong một thời,
vì sao cuối cùng vẫn không tránh khỏi kết cục đau buồn? Ấy là bởi, muốn cải biến
vận mệnh duy chỉ có hành thiện tích đức, tu tâm dưỡng tính mới là phong thủy tốt
nhất của đời người.
Cho nên, ngay trong phần mở đầu của cuốn sách bí
truyền “Dã Đàm Tả Ao”, điều ngài Tả Ao nhắn nhủ hậu nhân không phải là tìm long
mạch ra sao, trấn yểm thế nào, mà là tích đức, tu thân:
“Đạo cao, đức trọng, chưng thân
Hổ long liên phục, quỷ Thần liên kinh
Đức, nhân vốn ở cả mình
Tiên là tích đức, hậu là tầm long”.
-ST-
