ĐẠO GIÁO THƯỜNG THỨC - CÚNG DÀNG CẤM KỊ

Các vị tín sĩ, thiện nam tín nữ Đạo giáo khi đi đến cung quán miếu mạo, hoặc tại cư gia, hoặc đến đàn tràng,..thường có xu hướng mang theo một ít lễ vật, khi hương khi huê hoặc nhang đèn quả trái,...đặng mà cúng lên Tổ Sư, Thần Tiên. Tuy nhiên Đạo giáo có một số việc cần lưu ý cho chư tín sĩ và cả Đạo sĩ như sau.

Đạo Giáo cung phụng thần linh, thường dùng 5 loại phẩm vật, gọi là "ngũ sự cúng dàng" hay "ngũ chủng cúng phẩm" bao gồm hương, huê, đăng, thủy, quả (nhang, đèn, bông, trái, nước).

- Trước tiên nói về nhang, nhang là một loại "sứ giả" truyền tải sự thành kính của chúng sanh lên với chư Chân, có câu "nhứt chú chân hương thông tín khứ, thượng thánh cao Chân giáng phước lai" (một nén hương mang lòng thành kính, chư Chân biết rõ ban phước cho). Đốt nhang là biểu thị cho sự tôn kính Thần tiên chư Chân, thông thường sẽ đốt 3 cây tức đại biểu cho tín ngưỡng căn bổn của Đạo giáo là Tam Bửu gồm Đạo bửu, Kinh bửu và Sư bửu, không lúc nào quên. Nhang còn có khả năng trừ đi uế khí, thanh lọc không khí từ trường. Nhân gian uế khí ngũ trược tam độc, có thể đốt hương mà thanh lọc bớt, thanh tịnh đàn tràng, đặng mà tương thông Cao Chân. Khi đốt nhang yêu cầu tâm phải tịnh mà hiệp nhất với mùi thơm của nhang, để mà dễ câu thông và dưng sự thành kính đến với thần linh. Có câu "hương tự thành tâm khởi", tức là hương thơm tự khởi nguồn từ lòng thành kính của mình. Đạo giáo Bát Đại Thần Chú, Chúc Hương Chú có câu: "Đạo do tâm học, tâm giả hương truyền", tức là mượn nén hương này bày tỏ lòng thành tâm thành ý, đem tâm ý thành thực của mình gửi gắm đến Tiên Kiểng, nếu thường dùng "hương" của "tâm" này mà đốt, sẽ đắc đại thanh tịnh.

Đạo giáo thường dùng các loại nhang làm từ trầm hương hay đàn hương, quế hương,...hoặc một số loại thảo dược đặc chế theo công thức riêng của Đạo giáo y dược lí. Tuy nhiên, hiện nay nhang đàn hoặc trầm có giá thành khá cao, tín sĩ nếu không có khả năng mua cứ việc lựa những loại nhang nào vừa tầm với khả năng của mình tùy ý. Đạo giáo không cấm các loại nhang rẻ tiền, tuy nhiên vì tánh chất các loại nhang này là được ép từ mùn cưa mạt gỗ, hoặc chất hóa học,...nên khi đốt lên vừa gây ngạt thở, vừa không thanh tịnh, vừa gây hại cho sức khỏe,...nên tín sĩ lưu ý hạn chế không dùng các loại hương kém chất lượng, ấy là vì để bảo vệ cho mình mà thôi. Quan trọng là việc thành kính đối với chư Chân chớ không quan trọng về lễ vật mắc tiền hay rẻ tiền. Tuy nhiên hiện nay có một số nơi bán hàng hét giá khá cao so với mặt bằng chung, vì các ông chủ lợi dụng sự thành kính của tín sĩ mà trục lợi. Lúc này mọi người lưu ý, tùy vào khả năng cũa mình mà lựa cúng phẩm, nếu thấy nơi này bán giá quá cao, có thể sang nơi khác mà hỏi mua. Hoặc nếu sản phẩm này mình không đủ điều kiện, có thể đổi sản phẩm khác chớ chẳng bắt buộc quý vị phải cúng nhang này nhang kia mới đặng. Hoặc nếu mình không đủ điều kiện để mua được bất kì bông trái nhang đèn gì, vẫn có thể đến nơi cung miếu mà lễ bái chư Chân, vì quan trọng là nơi lòng thành kính của tín sĩ, chớ Thần minh chẳng trách chê gì quý vị về việc có phẩm vật hay không đâu.

- Tiếp theo là huê, hay bông. Là biểu tượng cho sắc đẹp, dùng để chỉ vẻ đẹp thanh cao, trong sạch. Những khi thỉnh phước cầu Chân, hay đơn giản chỉ là bày tỏ sự tôn kính, tất sẽ dùng hương và huê là cơ bản. Về việc này, mọi người cứ tùy nghi mà cúng, mua huê gì dâng cúng cũng đặng chẳng cần chấp trớ vào màu sắc hay hình dáng cây bông. Bốn mùa xoay vần, mùa nào thức ấy tùy khả năng, không phân biệt. Thông thường Đạo giáo tại cung quán sẽ dùng Mai Lan Cúc Trúc là thượng phẩm vì đó là những loại huê thanh nhã tượng trưng cho bốn mùa, là phẩm chất tốt đẹp của người quân tử dưng cúng chư Chân, gọi là "Tứ Quí Danh Huê". Kế đến là các loại Thủy Tiên, Mẫu Đơn và bông Sen đều là những loài hoa đẹp và tinh khiết. Tuy nhiên, duy một loại huê không được cúng đó là "Ngoạt Quí Huê" (Huê hồng Trung Quấc, Tràng Xuân huê, Ngoạt Ngoạt huê, huê Hồng kép, Tường Vi Trung Quốc,...).

Đại Phạm Đẩu Nghi, phần "Cấm Huê" có giảng: "Trăm loại huê đều có thể hiến dâng chư Thần, tuy nhiên cành huê Hồng tất cấm. Vì huê này tượng trưng cho tình yêu, ngày xưa được ví như người con gái yêu diễm, lẳng lơ trong các điển cố, nên chẳng thể dưng cúng Thần Tiên đặng." Khi lựa huê, chú ý lựa các cành huê còn tươi, còn khỏe, không bị côn trùng cắn hay huê tàn, hoặc huê quá nồng sẽ làm không khí trong cung miếu ngột ngạt, thành ra nên cần hạn chế.

- Đèn là một vật dụng cúng dàng quan trọng trong khoa nghi trai tiếu của Đạo giáo nói chung và các tôn giáo nói riêng. Thậm chí Đạo giáo còn có một nghi thức riêng làm qui chế cho việc đốt đèn, và thông thường hay dùng đèn một cặp. Thới Thượng Huình Lục Trai Nghi có dạy: "Đèn, tức là phá đi âm u mê tối, khai mở chiếu sáng u minh, mở ngõ ban đêm mà thấy đàng. Đêm dài là địa ngục làm cho hồn khổ não phách trì trệ. Lấy đèn làm ánh sáng chiếu rực rỡ, nhân đây mà giải thoát." Ngọn đèn trên có thể chiếu đến vô cực các từng Trời, dưới thông suốt cả Cửu U Minh địa ngục, là một dạng công đức hết sức to lớn. Ngày xưa, trước thời nhà Tống, trên điện thờ thường đốt đèn dầu. Sau thời Tống, nến được thay cho đèn. (Vì cấu tạo của loại đèn ngày xưa là giống một cái bát hoặc li, có một trụ ở chánh giữa nhô lên để xuyên sợi bấc qua mà đốt. Loại đèn này dễ bị đổ gây ra hỏa họa cháy lớn, và mau hết dầu tắt đèn, cần phải châm dầu thường xuyên. Còn cây nến đốt được lâu hơn và an toàn hơn). Đèn nên dùng các loại dầu thực vật, không nên dùng dầu hay mỡ động vật vì sẽ làm ô uế nơi linh thiêng thanh tịnh. Hiện nay có nhiều cung quán là Di tích Văn Hóa cấp tỉnh hay cấp quốc gia, cho nên đã bị cấm đốt đèn đốt nến nhiều đặng phòng ngừa hỏa hoạn. Tín sĩ cúng đèn dầu hoặc cúng nến, có thể dưng lên cho vị trụ trì hoặc phương trượng coi ngó, để vị ấy tùy thời tùy lúc mà phân bố việc đốt đèn sao cho phù hợp. Tín sĩ có thể không cần tự tay đốt đèn, mà chỉ cần thành tâm cúng dàng, còn việc đốt đèn đốt nến cứ đễ phương trượng hoặc người có chức trách tùy lúc mà đốt, công đức của các vị không hề thay đổi.

- Đối với việc cúng nước, "Huyền Môn Thánh Kinh" Đạo Đức Kinh có nhiều đoạn nói về nước: "thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật, phù duy bất tranh, cố vô vưu",..Lão Quân đã mượn hình ảnh của nước để ẩn dụ cho sự nhu hòa không tranh bàn với đời của Đạo giáo. Trong nhiều loại khoa nghi trai tiếu của Đạo giáo, pháp sư sẽ sử dụng nước sạch và kết hiệp với chú ngữ đặng mà tẩy uế, sái tịnh, tẩy sạch bụi trần, thanh lọc không khí từ tràng nơi pháp đàn cho sạch sẽ thanh tịnh. Ngày xưa, khi Tổ Thiên Sư còn tại thế, Ngài cũng thường xuyên dùng thủy pháp và chú ngữ để thực hành các pháp giải tật trừ bệnh cho chúng sanh. Nước là tinh khí trời đất, mang lợi sự sống cho toàn bộ chúng sanh, thấm lẫm âm minh chánh khí, ngưng tụ thới dương uy linh, lóng hết trọc khí nhơ bẩn mà giương nổi lên trong sạch.

Đạo giáo đem nước đi cúng thần, gọi là "Thất Bửu Tương" (chất lỏng có bảy điều báu). Vì sao là "thất bửu"? Dựa theo Thới Thượng Đại Đạo Ngọc Thanh Kinh có dạy: "Bảy thứ báu phân biệt là: nhựt tinh bửu tương, ngoạt huê bửu tương [nước là tinh huê nhựt ngoạt],  tinh tinh bửu tương [tinh túy của các vì sao], cam lộ bửu tương, kim dịch bửu tương, linh quang bửu tương, ngọc quỉ bửu tương".

Đạo giáo còn nhận định nước có "thất thiện" là đặc tánh, cúng nước tức là bắt chước phẩm chất của nước, xem đó làm gương mà tu dưỡng nhân sanh thanh tịnh.

- Trái cây, hay quả, cũng là một hình thức cúng dàng quan trọng của Đạo giáo, tượng trưng cho việc gieo trồng Tiên quá, sớm đăng Tiên giới. Đa số trái tròn là tượng trưng cho sự viên mãn, đầy đủ vẹn toàn công đức thiện đức. Trái cây cũng tùy ý như huê, mùa nào thức nấy. Khi lựa trái cây cũng nên chú ý lựa trái tươi, không héo, không hư, không sâu bọ. Thượng thanh Linh Bửu Đại Pháp, phần Đàm Trai Cúng (bàn luận về việc cúng chay) có luận: "Cúng trái cây nên lựa trái tươi, sạch sẽ tinh khiết. Tuy nhiên một số loại quả không thích hiệp để cúng Thần như là lê, thạch lựu, mận, mía, cà chua, táo đen."Lão Tử, tức Thới Thượng Lão Quân, họ Lí tên Nhĩ, lí tức là cây mận, cho nên cúng mận là phạm húy Thiên Tôn.

Thạch lựu, là loại trái cây có đặc tánh hạt nằm bên trong quả, sau khi đũ điều kiện, hạt tách ra khỏi quả mà tự mọc thành cây mới, điều này tối kị đối với chư thần Tiên quan niệm tánh mệnh tương thông không thể xa rời mà tự ý thành một thực thể khác. Xưa, Chơn Võ Đại Đế vì móc ruột gan ra khiến cho chúng biến thành 2 con yêu tinh Rùa và Rắn gây hại nhơn gian, nên từ đó về sau cấm kị việc cơ thể gốc tách rời ra mà hình thành cơ thể mới, vì thế mà Đạo giáo không cúng lựu. Ngoài ra còn là vì các loại quả này mọc lên là nhờ chim ăn hạt xong thải ra phân, từ phân mà mọc lên cây trái, nguồn gốc ô uế nên không thể cúng được.Trái lê, đối với văn hóa Trung Quốc là loại quả thường cúng cô hồn nên không cúng cho Thiên Tôn, ngoài ra nó còn có ý nghĩa là đơn độc, li rời. Chúng ta nương tựa vào Thiên Tôn, nương vào Đại Đạo, mà đi cúng loại quả cô hồn, đi cúng loại trái cây hàm xa rời li tán, như vậy làm sao mà đạt Đạo tu Chơn cho đặng. Nên Đạo giáo không cúng lê.

Ngày xưa, Trung Quốc không có các loại trái cây mang mùi mồng đậm như sầu riêng hay mít,..nên trong môn qui không có việc cấm chúng. Tuy nhiên ngày nay, nếu quý vị tự cúng ở nhà hoặc nơi thờ tự thoáng đãng, chịu mùi được thời cứ việc dưng cúng, chẳng sao cã. Còn nếu trong không gian kín, bế ép không khí vậy chú ý đừng cúng các loại trái cây có mùi nồng quá sẽ ảnh hưởng đến mình và người xung quanh.Trái cây không nên cúng trái đương ăn dở dang, hay trái đông lạnh, hoặc trái héo trái hư. Nói chung ngũ sự cúng dàng này không nên để đồ hư, coi nó vừa héo là nên thay đồ tươi mới lên ngay. Thông thường trái cây không cúng số chẵn như 2, 4, 6 dĩa, mà nên dùng số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 tùy vào khả năng.

Như vậy, kinh thư Đạo giáo đã qui định rõ ràng thức gì nên cúng và thức gì cấm kị không nên cúng. Đạo sĩ khi vừa qui y xuất gia, đã được giảng cho những việc này để mà chuyên tâm kính trọng chư thần Tiên đại Đạo, không ai không biết. Đã mang danh "người xuất gia", măc y áo trang phục của "người xuất gia" mà vẫn cố tình cúng trái héo bông hư, hoặc cúng mận cúng lưu,..ấy là khinh nhờn Thiên Tôn, ngạo mạn khinh bỉ Tổ Sư, phá bỏ Giới Luật, thực chẳng đáng là người "học Đạo" vậy.

Còn như Tín sĩ ở Việt Nam trước giờ chưa được giảng qua những việc này, bây giờ chư vị đã biết, vậy nên lưu ý chớ có qui phạm. Ấy là thể hiện lòng thành kính của mình đối với đại Đạo, với chư Chơn.

ST