Mong mỏi lớn nhất của người tu hành khi tìm đến với Phật đạo là tìm ra
cách thức giải quyết nguồn tâm. Biến một nguồn tâm đầy lo âu, phiền não trở về
trạng thái thanh tịnh vắng lặng bản nhiên.
Đây là mong muốn chính đáng nhưng khó có thể thành hiện thực với những
ai không biết, không hiểu, không nắm rõ, không bắt tay xử lý dòng chảy tâm thức.
Không chỉ người tu hành, mà hầu như những người quan tâm tới tâm thức
đều biết rằng nơi sự việc chẳng có tính chất gì cả. Sự việc chỉ là sự việc,
nhưng dưới nhận thức được góp nhặt qua nhiều năm tháng, mỗi người sẽ dùng lăng
kính chủ quan của bản thân để nhìn nhận và đánh giá thế giới này. Từ đó dòng chảy
tâm thức được hình thành. Nói cách khác, không phải những gì đang diễn ra ngoài
kia thực sự làm ta khổ mà chính là những nhận định của ta nơi sự việc. Những nhận
định tưởng như vô hại này tạo nên trận lũ trong lòng, làm cho mọi thứ mất đi vẻ
tĩnh lặng, thanh tịnh vốn có.
Tâm thức một hữu tình chưa giác ngộ vận hành giống như hiệu ứng domino
hay một trận lũ. Cái này có nên cái kia có, cái này sinh nên cái kia sinh, cái
này lún nên cái kia sụp..., để rồi kết quả cho chuỗi hiệu ứng đó là sự hiện hữu
của cảnh giới hoang tàng, đổ vỡ nơi tâm thức hữu tình. Ở nơi đó, vị hữu tình
này vừa là tác giả vừa là thọ giả.
Từ một sự việc ban đầu khi được góp ý về vấn đề nào đó, người đời liền
sinh các hiệu ứng phân tích như: Ngữ điệu, biểu cảm, nội dung đối phương truyền
tải... (những phân tích, nhận định này thuật ngữ trong Phật giáo gọi là hư vọng
pháp). Từ sự nhận định đó mà những hiệu ứng cảm xúc (thuật ngữ trong Phật giáo
gọi là hư vọng tâm) hiện khởi: Khó chịu sinh, khó chịu sinh bực tức sinh, bức tức
sinh tâm lý muốn tranh cãi bảo vệ cái ngã hình thành... Từ nơi không hóa có.
Các hiệu ứng đưa đẩy không dừng như những quân domino nối đuôi nhau ngã đổ, như
dòng lũ cuốn phăng sự yên ả thanh bình vốn có chỉ trong tích tắc. Từ những phân
tích, nhận định tưởng như vô hại ban đầu về sự việc, một thế giới tâm thức được
hình thành vô cùng sống động mà trong đó người này vừa là vừa là biên kịch, vừa
là diễn viên chính.
Người đời muốn trị lũ cũng phải nghiên cứu dòng chảy xây dựng đê đập.
Người tu hành muốn điều phục dòng tâm thức này cũng vậy, phải dựa trên chánh
pháp quan sát, tư duy, nghiền ngẫm về những gì đang xảy ra trong tâm thức này
và điều phục nó.
Quan sát về những gì đang xảy ra chính là nghiên cứu dòng chảy. Tư
duy, nghiền ngẫm chính là nghiên cứu cách làm chậm và điều hướng dòng chảy. Nhờ
vậy, dòng tâm thức vẫn chảy nhưng chẳng thể làm ngại người tu hành.
Người tu hành không quan sát, tư duy, nghiền ngẫm sẽ chẳng biết những
gì đã đang diễn ra trong tâm thức mình. Cũng sẽ chẳng thể hiểu vì sao với những
nhận định vô hại đó lại có thể tác động như vậy lên thân tâm họ. Càng không thể
làm chậm hay điều hướng dòng tâm thức này. Và tất nhiên, cũng không thể dễ dàng
rút chân ra, đứng trên cầu ngắm dòng nước chảy, như một người khách bộ hành
đang vãn cảnh.
Chánh pháp sẽ chỉ là chánh pháp, chỉ là những dòng chữ trên giấy nếu
người tu hành ứng xử với nó như vậy. Để rồi những gì đã biết chỉ là những gì
đã biết. Những gì đã nghe chỉ là những
gì đã nghe. Trước khi vội vã thắc mắc tại sao những điều này tôi đã biết nhưng
chẳng thể ứng dụng, có nên chăng người tu hành nên ngồi xuống suy ngẫm những điều
đã biết tôi đã hiểu đến đâu, những điều đã hiểu tôi đã thấy bóng dáng nó thế
nào trong tâm thức, những điều đã thấy
đã giúp tôi thấu suốt hay chưa...
-ST-