Các bạn !!!
Giác ngộ để được gì cho hiện tại và tương lai ??? Hoặc các câu hỏi đại
loại có nội dung gần giống như vậy, thường được những người tìm hiểu Phật pháp
quan tâm !!! Và, họ cũng thật sự muốn biết ý nghĩa đích thực của điều trên !!!
Chiều nay, mình nhận được câu hỏi có ý nghĩa như trên từ một "anh
bạn đời" thân nhau từ hồi còn "mài đũng quần" trên ghế nhà trường
!!! Sau mấy chục năm không gặp, vô tình chạm mặt khi dừng xe chờ đèn đỏ, rồi hai đứa kéo nhau
vào quán cà phê gần đó!!!
- Có phải mày là Lý Tứ không ??? (Hồi nhỏ hai đứa vẫn gọi nhau thân mật
là mày tao)
- Tao là Lý Tứ !!! Làm sao mày biết ???
- Thì vô tình vào fanpage của mày !!! Cái tên Lý Tứ bất nhơn mày lượm
(nhặt) được ở đâu thế ???
- Của trời cho !!! Lúc này mày làm gì ???
- Về hưu, nghiên cứu đạo lí cho vui !!!
- Mày nghiên cứu đạo gì ??? Cái bản mặt của mày có châm cứu thì nghe
còn lọt lỗ tai !!!
- Ê !!! Đừng có khi dễ !!!
- Tao không khi dễ !!! Nhưng nhìn cái bản mặt...của mày là biết rồi
!!!
-........!!! Hai đứa cùng cười !!!
Thôi, tao gởi cho mầy bài viết !!! Về mà đọc, mà ngâm cứu đi !!! Tạm
biệt cái thằng châm cứu hạng bét !!! Mai mốt a lô cho tao, tao sẵn sàng cho mày
phản biện "lút ba ga" !!!
Xin chuyển đến mọi người bài viết mình đã gởi cho người bạn chiều nay
!!!
- Hỏi: “Cốt lõi của đạo Phật là Giác Ngộ, vậy giác ngộ để được gì cho
hiện tại và tương lai?
- Đáp: Để có thể giải đáp thoả đáng câu hỏi trên. Đầu tiên, chúng ta
tìm xem hai chữ “Giác Ngộ” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì !!! Khi chúng ta
hiểu rõ hai chữ này, việc Giác Ngộ sẽ được gì cho hiện tại và tương lai không
khó giải quyết !!!
Giác Ngộ là gì ???
Giác ngộ là thuật ngữ Phật Giáo, được dịch từ chữ Bodhi của Phạn văn
là Bồ Đề, để chỉ sự thức tỉnh, chợt nhận ra một điều gì đó mà từ trước mình
chưa nhận ra !!!
Thuật ngữ này (nguyên thủy) không hàm ý nói đến sự kế thừa của ý thức
hoặc kinh nghiệm đời sống, mà nhằm chỉ sự bùng vỡ hoàn toàn của tri thức. Một
khi tri thức
vượt ra khỏi giới hạn chính mình, phá nát sự bao bọc che khuất chủ
quan của ý thức và mọi thói quen nghe nhìn thẩm định của các giác quan được chỉ
định bởi thức nghiệp. Khi không còn những thứ này bủa vây, người ta mới thật sự
biết đến nó. Vì thế, Giác ngộ hay Bohdi hoàn toàn mang ý nghĩa tự thân cảm nhận
hay còn gọi là tự chứng !!!
Sở dĩ nói tự thân cảm nhận, vì đây là một thứ cảm nhận đặc biệt mang nặng
dấu ấn của trí tuệ hơn là sự nhận biết chủ quan của nghiệp thức phân biệt thông
qua các căn. (Trích Phật Giáo Và Giác Ngộ; Anh Lạc Luận Tập I; NXB Dân Trí
2019; Lý Tứ)
Theo Tự Điển Phật Học Hán Việt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Phân
viện nghiên cứu Phật học (Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội) thì Giác 覺 bodhi
(thuật ngữ): Tiếng Phạn là Bồ Đề, cách dịch cũ là Đạo, và cách dịch mới là
Giác. Giác có hai nghĩa là Giác sát (xem xét hiểu biết) và Giác ngộ.
Theo Đại Thừa nghĩa chương, quyển 2 thì giác cũng có hai nghĩa: 1)
Giác sát gọi là giác; 2) Giác ngộ gọi là giác, như người ngủ thức dậy. Giác sát
là nhận ra các chướng phiền não.
Theo Từ Điển Phật Học của Ban biên dịch Đạo Uyển (Nhà Xuất Bản Tôn
Giáo) thì danh từ Giác ngộ (覺 悟; S, P: Bodhi) được dịch nghĩa từ chữ Bodhi (Bồ-đề, tỉnh
thức) của Phạn ngữ; chỉ trạng thái tỉnh thức.
Còn theo Tiểu Từ Điển Phật Học thông dụng của Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng
thì, Giác cũng có hai nghĩa: 1) Nghĩa thông- thường, giác là hiểu-biết. 2)
Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, giác là giác-ngộ, sự hiểu-biết chơn-chánh, thấu-đáo
về lẽ sống chết và bản-thể chơn-thật của muôn pháp.
Chữ giác dùng để dịch chữ Phạn Bodhi, Bồ-đề. Giác-ngộ (giác = biết; ngộ
= hiểu rõ) = tình- trạng hiểu-biết thật rõ-ràng, chính-xác, đúng với Chơn-lý.
Theo Tác giả Thiều Chữu thì, chữ Giác và chữ Ngộ được định nghĩa như
sau: Giác 覺:
Hiểu biết, hiểu những điều không biết đến gọi là giác. Đạo Phật 佛 cốt
nhất phải giác ngộ chân tính tỏ rõ hết mọi lẽ, cho nên Phật được gọi là Giác
vương (覺王).
Người học Phật được chứng tới quả Phật gọi là chánh giác 正覺. Ngộ
悟
là tỏ ngộ, biết. Trong lòng hiểu thấu gọi là ngộ, đọc sách hiểu được ý hay, gọi
là ngộ tính 悟
性.
Mở, bảo cho người biết tỉnh lại không mê muội nữa. (hết trích) !!!
Tóm lại: Giác ngộ xét về mặt văn tự, thì đây là một cặp từ gồm hai từ.
Đó là: Từ Giác (覺)
có nghĩa hiểu biết, hiểu được những điều mà từ trước tới nay không biết gọi là
giác; và từ Ngộ (悟) có nghĩa rõ biết như thật, như nhận ra một vật thể rõ
ràng trước mắt !!!
Giác Ngộ để được gì cho hiện tại và tương lai ???
Đáp: Như vậy, ta có thể hiểu, hai từ Giác Ngộ trong Phật đạo, nhằm chỉ
cho cảnh giới của một người tu hành đã trực nhận (giác) và thấy rõ (ngộ) những
điều cần trực nhận và phải thấy rõ theo yêu cầu của giáo pháp!!! Giáo pháp có bốn
yêu cầu, bắt buộc người tu hành phải trực nhận và phải thấy rõ, đó là:
1) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của “Thân” (thân niệm xứ): Nhận ra bản chất
và thấy rõ thiệt tướng của thân, người tu hành sẽ không còn bị thân trói buộc,
thành tựu Sắc Giải Thoát, chấm dứt vĩnh viễn khổ, phiền não, v.v... khi thân
chuyển biến theo quy luật sanh, lão, bịnh, tử...!!!
2) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của các “Cảm
Thọ” (thọ niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của các cảm thọ,
người tu hành sẽ không còn bị các cảm thọ làm mê mờ, thành tựu Thọ Giải Thoát,
chấm dứt vĩnh viễn khổ, phiền não, si mê, v.v... khi thân tâm bị tác động bởi
những tác động không mong muốn...!!!
3) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của “Tâm” (tâm
niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của tâm, người tu hành sẽ
không còn sinh các thứ tâm hư vọng, chấm dứt vĩnh viễn kiết sử (tham, sân
si...). Lậu hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) không còn sanh khởi, hết u
mê... Từ đó, thấy rõ bổn tâm, nhận ra bổn tánh (minh tâm, kiến tánh) !!! Thành
tựu hai đức tính cao quý của Niết Bàn (mà một người chưa giác ngộ không thể
có), đó là an lạc và thanh tịnh...!!!
4) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của vạn “Pháp”
(pháp niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của vạn pháp, người tu
hành sẽ không còn bị các pháp (quan niệm, khái niệm, nhận thức...) làm mê mờ...
Chấm dứt vĩnh viễn vòng luẩn quẩn của thế gian đối đãi (nhị nguyên) như: Đúng,
sai; phải, quấy; thiện, ác; hơn, thua; được, mất, v.v... Từ đó, không còn bị
trói buộc bởi chúng sinh giới và khí thế gian (thân tài thế giới). Nhờ thế, trí
tuệ chơn thiệt phát sinh, biết cách giúp mình và người (tự độ, độ tha) ra khỏi
ngu, mê, lầm (giác ngộ, giải thoát, trí tuệ). Thành tựu hai đức tính cao quý
còn lại của Niết Bàn (mà một người chưa giác ngộ không thể có) đó là thường và
ngã...!!!
Nói chung, một người có giác và có ngộ, hiện tại và tương lai vĩnh viễn
hết “ngu, mê, lầm” (theo quan điểm Phật giáo)!!! Thành tựu bốn mục tiêu của
giáo pháp đề ra đó là: Hết khổ (ra khỏi tám món khổ nhân sinh). Dứt tập (không
còn phiền não, kiết sử, lậu hoặc). Chứng diệt (an vui vĩnh hằng). Tu đạo (thành
tựu chơn thiệt trí) !!!
Hy vọng những giải đáp trên, có thể giúp các bạn hiểu ra Giác Ngộ là
gì, và nó giúp được gì cho chúng ta trong hiện tại cũng như tương lai !!!
LÝ
TỨ