Trong thực hành tín ngưỡng tâm linh thường ngày chúng ta vẫn thường
xuyên khấn nguyện hoặc dâng sớ; khi đễ lề chùa, đền, miếu, phủ...có người thì dâng
sớ, có người thì khấn nguyện, có người chỉ thắp một nén tâm hương. Nhưng vẫn có
một số người chưa hiểu sự khác nhau giữa văn khấn, sớ; lúc nào thì dùng cái nào.
Chính vì tâm lý thiếu hiểu biết này nên một số các thầy “bịp” và thầy “lừa” lợi
dụng để “kiếm tiền”. Bản thân những người bị lừa vẫn không biết là mình bị lừa
mà cứ cho rằng thầy tốt lắm, thầy đúng lắm. Nhằm cung câp hiểu biết cơ bản dưới
góc độ tiếp cận văn hóa dân gian, trong bài viết này tôi xin được chia sẻ ngắn
gọn về văn khấn, sớ, tác dụng, cách dùng trong tâm linh hàng ngày để đúng pháp
và đạt được lợi ích cho mọi người.
1. Văn khấn
Đây là lời bộc bạch, lời khấn nguyện, lời sám hối, lời bày tỏ, lời trình
bày...của người cúng lễ. Văn khấn rất phổ biến và được chia sẻ rất nhiều trên
Internet và có cuốn “văn khấn cổ truyền Việt Nam” từ lâu đã đi vào tâm thức người
việt như là một phương tiện cho mọi người khi đối trước ban thờ Phật, Thánh, Thần,
gia tiên. Cấu tạo của một bản văn khấn thường có mở bài, thân bài và kết bài.
Phần mở bài thường là nêu danh hiệu các chư vị trong đàn lễ (tùy từng khoa nghi)
sau đó giới thiệu tín chủ, thành viên gia đình, dòng họ...địa chỉ. Phần thân bài:
nội dung cầu nguyện và nhắc lại gửi lời thỉnh cầu đến ai (Phật, Thánh, Thần, gia
tiên). Nội dung kết bài: là lời phát nguyện (lời hứa, cam kết) và tạ lễ. Văn khấn
sử dụng thông dụng hàng ngày, lời lẽ ngắn gọn, súc tích, dễ thực hiện, ai cũng
làm được, thông tin chỉ cần điền vào mẫu sẵn là xong, hoặc thậm chí ai khấn nhiều
thuộc rồi thì chỉ cần đọc lên là được. Tuy nhiên, trong khoa nghĩ văn khấn không
thì chưa đủ, bởi nhiều khi lời nói gió bay, không có gì để làm minh chứng. Vì vậy,
các tổ đã biên soạn ra hệ thống sớ lễ, Điệp, Trạng, cáo (tùy từng đàn lễ, quy mô
lễ, mục đích lễ để sử dụng loại nào).
2. Sớ lễ
Hiểu một cách đơn giản đây là đơn trình bày lên các chư vị Phật, Thánh,
Thần, gia tiên về một sự việc nào đó: cầu an, cầu siêu, đảo bệnh, đầy tháng, tết,
vào nhà mới, tang lễ...Trong thế giới tâm linh thì việc giải quyết một việc nào
đó cũng phải có đơn; giống như chúng ta đi xin việc, báo cáo công việc đều phải
có văn bản và tuân thủ theo một thể thức; nếu sai thể thức thì chả có ai nhận cả.
Tương tự như vậy, trong khoa nghi, hành lễ thì phải có sớ. Sớ có những quy tắc, cách viết cần phải tuân thủ. Hội đồng các thần
linh cũng đều giải quyết mọi việc theo đơn. Ngày xưa, khi thượng triều, Hoàng
thượng nói ai có tấu sớ thì dâng, không thì bãi triều! Ngày nay gọi là đơn.
Nhưng về tâm linh vẫn phải gọi là Sớ. Sớ khác văn khấn nôm, văn khấn là
trình bày.
Xét về cấu tạo, sớ có 3 phần:
* Mở bài
- Tên tuổi
- Địa chỉ
- Tiết khí
- Nơi thờ phụng
* Thân bài
- Dâng sớ làm gì
- Dâng đến ai
* Kết bài
- Để đạt được điều cầu thì nguyện làm gì. Có từ phục nguyện nghĩa là
quỳ xuống mà cầu
- Ngày giờ
* Con dấu trên lá Sớ
Vì văn bản mà không có dấu thì không có hiệu lực. Dấu này là phổ thông
gọi là phật pháp tăng bảo đóng chủ yếu trên các sớ hiện nay. Còn có nhiều con dấu
khác như: Sát quỷ trừ tà; dấu lục thập hoa giáp; dấu thái thượng lão quân; hoa
liên hoa...
3. Giới thiệu một số sớ thông dụng trong khoa nghi cho nhà dân
- Sớ Thổ công: Dùng thường xuyên khi đến ngày rằm, mồng 1 để cầu an hoặc
khi có một việc nào đó cần có sự trợ giúp của các ngài thì đều có thỉnh ngài và
dâng sớ.
- Sớ gia tiên: Dùng thường xuyên khi đến ngày rằm, mồng 1, lễ, tết, cúng
giỗ để thỉnh gia tiên và cầu an cho toàn gia đình.
- Sớ Lễ Phật: Dùng khi làm lễ cầu an tại gia, tại chùa, đền để dâng cúng
Phật
- Sớ Phúc Thọ: Dùng tại gia hoặc tại Đền, Đình, Miếu, Phủ để dâng lên Chư
vị Phật, Thánh, Thần cầu an
- Sớ tết: Gồm có 7 lá sớ cúng lễ từ ngày tiễn táo quân đến hết ngày 3
tết nguyên đán: (1) Tiễn Táo Quân (23/chạp); (2) Trừ tịch chiều 30 Tết, tiễn
năm cũ (3) Sớ giao thừa ngoài trời (4) Sớ giao thừa trong nhà (5) Chúc phúc Mồng
Một Tết (6) Lễ Gia tiên (7) Sớ hoá vàng Tiễn Gia tiên sau Tết.
Mỗi lá sớ đều có ý nghĩa riêng và khi được dâng cúng với nghi thức đầy
đủ, thành tâm thì đều có công đức và lợi lạc. Thiết nghĩ nếu mọi người đều đoạn
ác, tu thiện, chăm lo cúng dường, bố thí thì chắc chắn sẽ dần dần tiêu trừ nghiệp
chướng, phúc đức tích trữ; trí tuệ tăng tiến và thân tâm an lạc. Các Chư Phật,
Thánh, Thần, gia tiên vẫn luôn lắng nghe, quan sát và gia hộ cho mọi chúng sinh
nếu họ biết cách sống, cách cúng dường.
Sau khi dâng sớ xong thì đọc bài văn khấn là hợp lý, bởi giống khi ta đưa
đơn cho cấp trên vẫn phải trình bày thêm là thế, cũng có lúc chỉ cần đưa đơn là
được, không phải trình bày dài. Thôi, thì ai hoan hỉ dâng sớ hay văn khấn
đều được. Bởi theo kinh Pháp Hoa “nhất thiết duy tâm tạo”!
Bài viết là quan điểm cá nhân, mọi người đọc để tham khảo
Gửi niệm lành đến tất cả!