MƯỜI PHÁP GIỚI

Vũ trụ bao la vô tận, có vô vàn thế giới, có thế giới thanh tịnh (tịnh độ), có thế giới ô nhiễm (uế độ), mỗi thế giới có một Đức Phật làm giáo chủ giáo hóa chúng sinh, nên một thế giới gọi là một Phật Độ (cõi Phật). Trái Đất ta đang sống chỉ là một nơi rất bé nhỏ trong thế giới Sa Bà, thuộc phạm vi giáo hóa của Đức Phật Thích Ca. Tuy vô số thế giới có đa dạng môi trường sinh sống trong nhiều chiều không gian, nhưng tất cả được quy nạp về Mười Pháp Giới, gồm Tứ Thánh (bốn pháp giới Thánh, gồm: Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn) và Lục Phàm (sáu pháp giới phàm, gồm: Thiên, Nhân, A tu la, Súc sinh, Ngã quỷ, Địa ngục). Nói rộng thì có mười, nói gọn chỉ có hai, đó là: Phật và chúng sinh (Phật-Sinh).

 Chúng sinh hay còn gọi là chúng hữu tình, chia ra Thánh Phàm khác nhau. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là chúng sinh bậc Thánh, các Ngài là chúng sinh ngoài cõi luân hồi. Từ chư thiên trở xuống là chúng sinh phàm phu, đều là chúng sinh trong cõi luân hồi.

 Chữ Thánh trong Phật giáo chỉ chung các bậc Thánh xuất thế gian, đã thoát ly sinh tử luân hồi, còn chữ Thánh trong các tôn giáo tín ngưỡng hay các đạo là từ tôn xưng các vị thần linh hoặc những bậc có nhân cách lớn trong xã hội, đều là chúng sinh trong cõi luân hồi. Tuy dùng chữ Thánh, nhưng đạo quả cũng như trí tuệ khác nhau một trời một vực.

 Tất cả chúng sinh phàm phu được quy nạp thành sáu loại, sống trong sáu môi trường lớn, gọi là Lục đạo hay Lục thú, nghĩa là sáu đường hoặc sáu nẻo, hoặc gọi là sáu cõi, gồm: Thiên đạo, Nhân đạo, A tu la đạo, Súc sinh đạo, Ngã quỷ đạo, Địa ngục đạo.

 1- Thiên đạo (cõi trời): Mỗi Đại Thiên Thế Giới chia ra Tam Giới (ba cõi). Thiên đạo gồm: sáu tầng trời Dục Giới, mười tám tầng trời Sắc Giới và bốn tầng trời Vô Sắc Giới.

 Dục Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình đầy dâm dục, tình dục, sắc dục, tham dục, v.v... Cõi này bao gồm: trên là sáu tầng trời, giữa có bốn châu lớn của con người và dưới đến Vô Gián Địa Ngục, v.v... Do vì nam nữ cùng sống chung với nhau, nhiễm các mong muốn, nên gọi là Dục Giới, càng lên cao mức dục càng giảm nhẹ.

 Chúng sinh cõi trời Dục Giới thân thể cao lớn, đời sống vui vẻ, thọ mạng dài lâu, có năm loại thần thông, y phục, thức ăn, châu báu, cung điện tự nhiên hóa thành, tùy theo ý muốn, tiêu dao tự tại.

 Siêng năng thực hành Thập Thiện, hiếu dưỡng cha mẹ, bố thí rộng rãi, tạo phúc điền lớn; quy y Chính Pháp, tin Phật, tin nhân quả, trai tăng, cúng Phật, sửa tháp xây chùa, đọc tụng kinh Đại thừa, trang nghiêm tượng Phật, v.v... sẽ được sinh về cõi trời Dục Giới.

 Tu Thiền định sẽ tùy theo mức độ đắc định mà sinh về cõi trời Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

 Sắc Giới, sắc ở đây có nghĩa là thị hiện (hiện rõ), là thế giới cư trú của chúng hữu tình đã xa lìa được dâm dục, thực dục và có đầy đủ sắc chất thanh tịnh. Cõi này nằm trên Dục Giới, không có dục nhiễm, cũng chẳng có hình nữ; chúng sinh ở đây đều do hóa sinh mà có. Cung điện tại đây cao lớn, do sắc hóa sinh, nên hết thảy đều đặc biệt, khác thường. Do vì cõi này có sắc chất nên được gọi là Sắc Giới. Căn cứ vào Thiền định sâu cạn, thô tế mà cõi này được chia thành bốn cấp khác nhau ở trong 18 tầng trời.

 Vô Sắc Giới là thế giới cư trú của chúng hữu tình không có vật chất, mà chỉ có bốn tâm là: thụ, tưởng, hành và thức. Cõi này không có vật chất, thân thể, cung điện, quốc độ gì cả, chỉ lấy tâm thức mà trú trong Thiền định sâu xa vi diệu, nên có tên gọi như vậy. Gồm bốn tầng trời nằm trên Sắc Giới.

 Về thời gian thì một ngày đêm ở cõi trời Tứ Vương (tầng trời thấp nhất, ở ngay phía trên cõi nhân gian) bằng 50 năm ở nhân gian, một ngày đêm ở cõi trời Đao Lợi (tầng trời thứ hai) bằng 100 năm ở nhân gian, một ngày đêm ở cõi trời Dạ Ma (tầng trời thứ ba) bằng 200 năm ở nhân gian, một ngày đêm ở cõi trời Đâu Suất (tầng trời thứ tư) bằng 400 năm ở nhân gian, một ngày đêm ở cõi trời Hóa Lạc (tầng trời thứ năm) bằng 800 năm ở nhân gian, một ngày đêm ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại (tầng trời thứ sáu) bằng 1.600 năm ở nhân gian, v.v...

 Về tuổi thọ thì chư thiên cõi trời Tứ Vương thọ 500 tuổi (bằng 9 triệu năm ở nhân gian), chư thiên cõi trời Đao Lợi thọ 1.000 tuổi (bằng 36 triệu năm ở nhân gian), cứ lên tầng trên lại tăng gấp lên, cho đến chư thiên cõi trời cao nhất là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thọ 84.000 đại kiếp.

 Sắc Giới và Vô Sắc Giới chỉ có chúng sinh cõi trời thuộc Thiên đạo cư trú. Năm đường còn lại được nói tới sau đây đều thuộc Dục Giới.

 2- Nhân đạo (cõi người): Cư trú ở bốn châu quanh núi Tu Di, dưới trời Tứ Vương. Người ở Diêm Phù (Trái Đất chúng ta) vui ít khổ nhiều, tâm luôn chứa đầy phiền não; có các hoạt động tư duy phức tạp, giỏi về phát minh sáng tạo; có sức ý chí mạnh mẽ, có năng lực tạo tác nghiệp nhân thiện và ác, có nhu cầu nội tâm tìm kiếm sự giải thoát.

 Muốn tái sinh trở lại cõi người cần phải giữ trọn Ngũ Giới, hiếu dưỡng cha mẹ, lương tâm công bằng, cung kính Tam Bảo.

 3- A tu la đạo (cõi A tu la): Dịch là “phi thiên” (chẳng phải trời) vì tuy có phúc trời nhưng không có đức trời, lại dịch là “vô đoan” (xấu xí) vì nam rất xấu, nữ rất đẹp, đặt tên theo hình nam. Tuy có phúc của trời, thần thông tự tại, nhưng lại kiêu mạn, sân hận, đố kỵ, thường thích đấu tranh, chịu khổ không dứt.

 Những người dùng tâm bất tịnh để tu Thập thiện nghiệp, không thể nhẫn nhục, tranh cường háo thắng, tính dễ nóng giận, kiếp sau thường sinh về cõi A tu la.

 A tu la đạo có khi được gọi là đường lành, có khi được gọi là đường dữ. A tu la có nhiều dạng, cư trú trong bốn đường: Trời, Người, Súc sinh và Ngã quỷ. Ở cõi trời thì thường gây chiến tranh với vua trời Đế Thích. Trên Trái Đất, bọn hay gây gổ chiến tranh, cho đến những người tính nóng giận, dù tâm tốt hay xấu đều là A tu la trong loài người.

 Cho nên có kinh không nói đến A tu la, chỉ kể năm đường còn lại gọi là Ngũ thú. Ngoài ra còn một loại nữa là Tiên cũng cư trú trong bốn đường: Trời, Người, Súc sinh và Ngã quỷ. Trong kinh Hoa Nghiêm kể thêm cõi Tiên thành bảy đường gọi là Thất thú. Thông thường chỉ nói đến Lục đạo, là sáu pháp giới phàm phu.

 4- Súc sinh đạo (đường Súc sinh, cũng đọc là Súc sanh): Nói rộng là Bàng sinh, có nhiều loại, phúc phận khác nhau, cư trú cả trên các cõi trời Dục Giới và cõi người. Cõi người chúng ta thấy đa dạng các loài động vật cho đến các loài côn trùng bé nhỏ đều là súc sinh, đa số là những loài vô phúc, tính ngu độn, tranh giành, cấu xé, ăn thịt lẫn nhau, thường bị sai khiến, bị giết thịt.

 Những người tham ăn rượu thịt, tìm cầu hoan lạc, mượn nợ không trả, trộm lừa người khác; não hại chúng sinh, hủy nhục người khác; tính tình tà vạy, ngu si, kiếp sau thường sinh về đường Súc sinh.

 5- Ngã quỷ đạo: Cũng đọc là Ngạ quỷ, nghĩa là “ma đói”, đây chỉ là cách gọi riêng về loài ma quỷ chịu khổ do ác nghiệp đời trước. Thực ra đường này gọi là “Quỷ thần” mới đủ nghĩa, vì trong đường này có rất nhiều loại, có loại có uy phúc, có loại không có uy phúc, đây là do những nghiệp nhân thiện ác bất định từ kiếp trước. Loại có uy phúc cũng có cung điện, thân tướng trang nghiêm, hoặc được dùng những trân vị cam lộ, hoặc được người thờ cúng. Có chính thần, có tà thần. Các bậc thánh thần trong tín ngưỡng dân gian như các vị thần thành hoàng, thần miếu, đền, điện, phủ, thổ công chúa đất, táo phủ thần quân, v.v... được dân thờ cúng, đều là chính thần, luôn hộ trì giúp đỡ nhân gian.

 Phần nhiều là loại không có uy phúc, khổ sở, ở chỗ âm u, đa số là các loài ma đói phải cậy nhờ người khác cho ăn, đói khát bức bách, hình dáng thấp hèn, nhiều điều sợ hãi, cô đơn rét lạnh, suốt ngày mê loạn. Những người sống keo kiệt tham lam, ghen ghét đố kỵ, gian tà, nịnh bợ, lấy công làm tư, chỉ toan tính cho mình no ấm, không thương kẻ khác đói rét, không cứu giúp người hoạn nạn nghèo khổ, kiếp sau sẽ chuyển sinh làm loài ngã quỷ.

 Quỷ thần dù ít dù nhiều đều có linh thông, nhớ được kiếp trước, biết được ý nghĩ, biết được những việc quá khứ của người khác, v.v...

 6- Địa ngục đạo: có tên là Nê lê, Nại na ca, dịch là “khổ cụ”, ý là dụng cụ để cho chúng sinh làm việc ác chịu khổ. Nhân vì vị trí nơi này thường ở tầng dưới Địa Cầu, lại là nơi chịu khổ như ngục tù nên gọi là Địa ngục. Nhưng Địa ngục không phải đều ở dưới, mà có khi ở trên mặt đất, hoặc dưới nước, hoặc trên hư không, rất nhiều dạng khác nhau. Chúng sinh ở đó, thân chịu nhiều cực hình, tâm chịu khổ tột cùng. Hoặc bị lửa thiêu nướng, hoặc bị rét lạnh, hoặc bị dao chặt, bị cưa xẻ, hoặc bị giường sắt nướng thân, bị bỏ vào chảo dầu nấu, chiên, hoặc nhiều kiểu giết chóc, chết đi sống lại nhiều lần, khổ cực vô cùng, nhưng tuổi thọ ở Địa ngục lại rất lâu dài, không biết ngày nào thoát ra được. Các bậc chứng Thánh quả, có Túc mệnh thông, khi nhớ lại kiếp quá khứ ở trong Địa ngục mà các Ngài toát ra mồ hôi máu.

 Những người không tin nhân quả, sát hại chúng sinh, tuân lệnh tà giáo, mê hoặc lòng người, ngũ nghịch thập ác, phỉ báng Chính Pháp, kiếp sau khó thoát khỏi địa ngục. (Ngũ nghịch: Giết cha, giết mẹ, giết A La Hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng).

 Dân gian thường nói đến “cõi âm” hoặc “âm ty”, “âm phủ”, là chỉ hai đường Ngã quỷ, Địa ngục; nói “dương gian” hay “cõi dương” là chỉ hai đường Người và Súc sinh; nói “thiên đường” hay “thiên đàng” là chỉ cõi Trời.

 Ba đường Trời, Người, A tu la, mỗi loài đều có trí tuệ, ít nhiều đều được hưởng phúc báo, gọi là “tam thiện đạo”, nghĩa là “ba đường lành”. Ba đường Súc sinh, Ngã quỷ, Địa ngục u mê hôn ám không có trí tuệ, chịu khổ vô cùng, gọi là “tam đồ ác đạo” hay “tam ác đạo”, nghĩa là “ba đường ác”, gọi tắt là “tam đồ” hoặc “ba đường”.

 ▪ Khi Thần thức đi vào một đường nào đó là “sinh”, khi thoát khỏi đường đó là “tử”. Mỗi chúng sinh được sinh ra theo một trong bốn cách: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, gọi là “tứ sinh”. Như sinh làm người hoặc sinh làm một số loài vật như trâu, bò, ngựa, dê, thì theo cách thai sinh mà đầu thai chuyển kiếp rồi sinh ra từ bào thai; noãn sinh là sinh ra từ trứng như gà, chim; thấp sinh là sinh ra từ nơi ẩm ướt như muỗi và các côn trùng khác; hóa sinh là do biến hóa mà sinh ra do sức mạnh của nghiệp, như chư thiên các cõi trời, ma quỷ ở cõi ngã quỷ, địa ngục, hoặc những vật cởi lốt đòi hình như loài bướm hóa sinh ra từ sâu.

 ▪ Quả báo khổ vui trong Lục đạo tuy có khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc vào cõi mê lầm, chúng sinh trong đó dù có sung sướng như các cõi trời, nhưng đều phải chịu sự chi phối của quy luật sinh tử, đến khi tuổi thọ hết vẫn phải chết, lại phải luân hồi, hưởng hết phúc có khi phải đọa vào ba đường ác. Bất cứ chúng sinh nào, nếu còn trong Lục đạo luân hồi thì trước sau rồi cũng bị đọa vào Địa ngục. Tam Giới như nhà lửa thiêu đốt chúng sinh, Lục đạo luân hồi trong Tam Giới là lãnh vực mê khổ của chúng sinh, như biển lớn không có giới hạn, nên được gọi là Khổ Giới (cõi khổ), Khổ Hải (biển khổ).

 Cho nên, làm người nếu chỉ tu Phúc, giữ giới làm lành, trọn vẹn luân thường đạo lý, làm được rất nhiều việc tốt, mà không biết tu Tuệ, thì tuy có tâm tốt, tuy kiếp sau được phúc báo, nhưng chỉ là phúc báo thế gian, được tái sinh vào cõi trời cõi người hưởng phúc cũng chỉ là khách luân hồi. Thế nên ngoài việc tu Phúc, cần phải biết tu Tuệ, và lấy việc tu Tuệ làm cốt yếu thì mới thoát ra khỏi luân hồi. Niệm Phật chính là một phương pháp tu Tuệ dễ thành tựu nhất.

 Thêm nữa, người niệm Phật vì đức hiếu sinh mà ăn chay được là rất tốt. Nếu không ăn chay được thì cố gắng tránh sát sinh (tự giết hoặc nhờ người giết), mua thịt cá ngoài chợ đã làm sẵn về chế biến là được. Niệm Phật là tu Tuệ, ăn chay là tu Phúc.

 Sông Ái nghìn thước sóng

 Bể Khổ muôn trùng sa

 Muốn thoát luân hồi khổ

 Gấp gấp niệm Di Đà.

-ST-