Đạo Phật là đạo của giác ngộ, giải thoát nên lúc nào cũng phát khởi tấm lòng vô ngã, vị tha với tinh thần từ bi và trí huệ. Trong suốt 49 năm hoằng dương chính pháp, đức Phật đem hết sự thấy biết của mình qua sự tu chứng, trải nghiệm thực tế, nhằm thức tỉnh và giác ngộ mọi người để có sự hiểu biết chân chính bằng niềm tin nơi chính mình và tin sâu nhân quả.
Kinh Kamala được đức Phật nói
trong hoàn cảnh khi Ngài cùng các đệ tử đi đến thị trấn Kêsaputa của sắc dân
Kalama thuộc nước Kôsala. Người dân trong thị trấn này rất muốn tu tập để chuyển
hóa những nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc; nhưng họ không biết ai là
đạo sư chân chính vì có quá nhiều vị thầy đến đây để tuyên truyền, thuyết phục,
ai cũng cho giáo pháp của mình là chân lý. Chính vì có quá nhiều đạo sư làm dân
chúng trong thị trấn cảm thấy phân vân, lo lắng, vì không biết ai là đạo sư
chân chính để quy hướng và ứng dụng hành trì.
Đức Phật do nhân duyên này, thay
vì trả lời trực tiếp sự thắc mắc của người dân, bằng sự thông minh và trí tuệ của
chính mình, Ngài hỏi những người dân ấy như sau: “Này những người dân Kalama, giết
hại có từ bi hay không? Trộm cướp có từ bi hay không? Uống rượu say sưa có từ
bi hay không?” Tất cả người dân đều trả lời: “Dạ thưa không, kính bạch đức Thế
Tôn”.
Đức Phật dạy, việc phân vân, nghi
ngờ khi chưa hiểu rõ là điều tất yếu, hợp lý khi nghe nhiều lời tuyên truyền,
thuyết giảng. Trong trường hợp đó, mọi người không nên vội tin quan điểm nào,
và cũng không bác bỏ quan điểm nào khi chưa tìm hiểu đạo ấy một cách thấu đáo
và triệt để. Đây là lời dạy chân chính và thiết thực, làm cho người dân Kamala
phải suy nghĩ, nghiệm xét một cách rõ ràng, tường tận. Có những phật tử chỉ đọc
các câu “chớ vội tin” của Kinh Kamala mà đã quy kết, đã khởi kiến chấp trong đầu,
cho là quan điểm của mình đúng rồi quay lại bác bỏ, phỉ báng các học thuyết
khác.
Đây là một điều rất tai hại có thể
dẫn đến nhiều sai lầm đáng tiếc. Ở đây, chúng ta thấy đức Phật rất đỗi từ bi và
rộng lượng, Ngài không bắt buộc một ai tin theo mình mà chỉ khuyên nhủ mọi người
không nên vội tin và cũng không nên bác bỏ. Chỉ khi nào những lời dạy đó ta đem
áp dụng trong đời sống hằng ngày mà cảm nhận được lợi lạc thật sự cho chính
mình thì mới hoàn toàn tin theo.
Đức Phật dạy: Khi
nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm; chỉ khi nào sau
khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy lời dạy này thiện lành, tốt đẹp, đạo
đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán; nếu sống và thực hiện
các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại và về lâu, về
dài thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo.
Khi học, khi đọc, khi nghe một học
thuyết nào đó, điều quan trọng bậc nhất là chúng ta phải áp dụng, thực hành.
Khi chính mình thực hành và trải nghiệm theo giáo pháp đó mình cảm thấy bình
yên, hạnh phúc ngay trong hiện tại và lâu dài thì đó đúng là những lời dạy chân
chính, chúng ta hãy nên có lòng tin tuyệt đối vào giáo pháp đó. Trong thời gian
gần đây, có một số người học Phật khởi lên tâm niệm chấp trước, thấy mình hay,
mình giỏi hơn người, ai theo tông chỉ Thiền thì phỉ báng Tịnh độ, người theo Tịnh
độ thì chê bai Thiền, hoặc có nhiều luận thuyết bác bỏ lẫn nhau. Các quan điểm
này đều sai lầm và cần phải loại trừ trong ngôi nhà Phật pháp.
Thật ra, trong đạo Phật từ pháp
phương tiện cho đến pháp cứu cánh, tất cả đều phải Thiền và Thiền có hai loại
là Thiền chỉ và Thiền quán. Pháp nào chỉ dạy nương vào một chỗ gọi là Thiền chỉ
như niệm Phật, niệm hơi thở chẳng hạn; còn dùng nhận thức để quán chiếu thân thọ,
tâm pháp, cho đến ngoại cảnh bên ngoài đều gọi chung là Thiền quán. Hai pháp
này hỗ tương cho nhau, nhờ chỉ nên được định, nhờ quán mà phát sinh trí tuệ,
buông xả phiền não tham-sân-si. Khi hai phương pháp này đã thuần thục rồi thì mỗi
hành giả phải trở về trung đạo, không dùng chỉ và quán nữa mà thể nhập Phật
tính ngay nơi mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý. Phương tiện của mỗi pháp tu có khác, ai
thích hợp với pháp nào thì pháp đó là số một.
Ví như có người cảm thấy niệm Phật
giúp họ an lạc thì đó là chính pháp đối với họ, ta không được chê bai, chỉ
trích; nhưng trì danh niệm Phật là phương tiện ban đầu muốn được nhất tâm bất
loạn như trong kinh A Di Đà nói thì chúng ta phải nhớ Phật, tức phải buông xả
câu niệm Phật để thể nhập tâm hằng biết của mình. Có người nhận thấy tu Thiền
giúp họ yên vui, hạnh phúc, thì ta không nên phỉ báng họ, vì đó là gốc của đạo
Phật. Thiền là nền tảng căn bản cho mỗi hành giả tu theo đạo Phật, không có Thiền
tức không phải đạo Phật.
Ngày xưa, tôn giả Anan trên đường
đi giáo hóa cùng đức Phật, hai người đệ tử đã phát tâm theo ngài học Phật. Người
là thợ rèn thì tôn giả chỉ pháp tu quán bất tịnh, người giữ nghĩa địa thì tôn
giả dạy pháp tu quán hơi thở. Hai ông tu hoài nhưng không tiến vì không buông xả
được phiền não, nên mới than “sao thầy dạy con tu mà không tiến chút nào hết?”
Nghe vậy, ngài liền hỏi Phật chỉ dạy. Phật bảo: “Tại ông dạy sai vì không phù hợp
với căn cơ, việc làm của họ, chứ không phải tại họ tu sai. Ông phải dạy lại đi,
người thợ rèn nên dạy quán hơi thở, vì họ thổi ống bễ phì phịch hoài, quán hơi
thở sẽ nhịp nhàng với công việc, tu như thế mau tiến hơn; người giữ nghĩa địa
thường thấy xác chết nên dạy họ quán bất tịnh thì sẽ có kết quả liền".
Ngài Anan nghe lời dạy của Thế
Tôn rồi đem dạy lại 2 vị đệ tử của mình. Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, cả hai
tu đều có kết quả tốt đẹp nên họ càng có niềm tin vững chắc với Phật pháp. Qua
câu chuyện trên, cả hai pháp quán bất tịnh và quán hơi thở đều do Phật dạy;
nhưng đối với người thợ rèn thì quán bất tịnh không phù hợp với căn cơ, việc
làm của họ hiện tại, nên dù có cố gắng tu cũng không đem lại an lạc; đối với
người canh nghĩa địa vì thường xuyên tiếp xúc với nhiều xác chết, nếu chỉ dạy
quán hơi thở cũng không thích hợp, vì khi thực hành người đó bị loạn tâm.
Trở lại Kinh Kamala, đức Phật có
nói những dấu hiệu của hạnh phúc là khi lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung
hăng… đã được vứt khỏi nội tâm con người, thì con người sẽ được hạnh phúc. Khi
ta không còn lòng tham, lòng sân, lòng si, lòng hung hăng… chi phối, chinh phục,
ta sẽ không khởi lên ý nghĩ hay hành động bức hại sinh linh, lấy của không cho,
quan hệ tình cảm bất chính, nói láo, uống rượu, cũng như không còn khích lệ người
khác làm những điều xấu ác. Như Lai tuyên bố sự xa rời ấy giúp cho con người sống
hạnh phúc và an lạc về lâu về dài.
Như vậy, pháp môn nào hướng bản
thân mình đến bình yên, hạnh phúc thì đó là chính pháp cho mình; nhưng pháp môn
đó chưa hẳn đã là chính pháp cho người khác. Vì thế, quá trình giảng dạy và
truyền dạy pháp cần phải được phù hợp với căn cơ của mọi người. Người dạy pháp
trước tiên tâm phải định tĩnh, yên vui và tỉnh thức, rõ biết được tâm lý của
người khác thì mới được giảng pháp. Nếu không rõ được điều này thì việc mình tự
tu, mình tự chứng, dùng mình làm trung tâm quán sát sự yên vui, sự hạnh phúc
trong nội tâm là điều tối cần thiết, không nên xem xét lỗi người mà tự làm tổn
hại tâm mình.
Tóm lại, khi nghe ai nói hay truyền
đạt một điều gì ta phải biết cân nhắc, xem xét, chỉ khi nào bản thân biết suy
tư, chiêm nghiệm và nhận thức xác đáng điều gì là chân chính, lợi ích cho mình
và người thì hãy đem lòng tin tưởng và làm theo. Đó là tiêu chuẩn của đức tin
chân chính, chúng ta nên học hỏi và bắt chước thực hành. Dựa trên nền tảng
chung của Kinh Nền Tảng Đức Tin, chúng ta hãy cùng tìm hiểu 10 niềm tin chân
chính mà đức Phật chỉ dạy:
1. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó là truyền thuyết
2. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống
3. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay
tuyên truyền
4. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển
hay sách vở
5. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình
6. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của
mình
7. Chớ vội tin một điều gì khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời
hợt
8. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình
9. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng
hộ
10. Chớ vội tin một điều gì chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay
đạo sư của mình tuyên thuyết
