Cúng gia tiên là
cúng tổ tiên trong nhà, là nghĩa vụ thiêng liêng của con cháu để tỏ lòng nhớ ơn
nguồn cội của mình “Cây có cội nước có nguồn”.
Cúng gia tiên là một
cái đạo “Đạo thờ cúng ông bà”, gọi tắt là đạo ông bà. Đạo ở đây không phải là
tôn giáo vì không có giáo chủ, môn đệ… .mà chỉ là “đạo làm người” trong gia
đình, lấy tình cảm và sự liên hệ máu mủ ruột thịt trong gia đình làm chủ yếu.
- Ý nghĩa của sớ
gia tiên
Cúng gia tiên là thể
hiện sự hiếu thảo và tình thương yêu của con cháu đối với người quá cố. Cúng
gia tiên bày tỏ lòng tri ân, thương nhớ của con cháu đối với tổ tiên nguồn cội.
Việc cúng kính không chú trọng ở hình thức mâm cao cỗ đầy mà chú trọng ở nội
dung, đó là tấm lòng thành kính tri ân thương nhớ và noi gương. Vua Hùng Vương
thứ 6 không chọn cao lương mỹ vị để cúng gia tiên mà chọn bánh chưng bánh dầy
là món đơn sơ giản dị nhưng hàm chứa nội dung ý nghĩa sâu sắc.
Xưa kia, ngoài những
biến cố xảy ra trong gia đình, còn nhiều trường hợp con cháu cũng làm lễ cúng
bái gia tiên, kêu cầu khấn vái như: trong làng trong xóm có đám cướp đang hoành
hành đốt nhà, cướp của… gia chủ vội vàng khấn lễ tổ tiên, cầu cho gia đình mình
tai qua nạn khỏi, bọn cướp không đến quấy nhiễu nhà mình. Hoặc đất nước đang
thanh bình bỗng có loạn binh đao, giặc trong, thù ngoài đang giày xéo quê hương
đất nước,… khi đó con cháu cũng tạ lễ cầu xin tổ tiên phù hộ cho toàn gia tránh
được tai ương, những lúc loạn lạc. Làng xóm đang yên lành, làm ăn khoẻ mạnh, bỗng
nhiên nạn dịch ập đến, cướp đi sinh mạng con người, con cháu cũng xin với tổ
tiên che chở để tránh khỏi căn bệnh hiểm nghèo…
Nhìn chung, trong
tâm khảm người Việt Nam luôn luôn tin tương ở sự phù hộ của tổ tiên, ông bà,
cha mẹ và tin là có sự hiện diện của họ quanh mình, nên mọi việc tốt, xấu xảy ra
liên quan đến cuộc sống gia đình, con cháu đều cáo gia tiên.
- Cách cúng Gia
tiên
Việc cúng bái tổ
tiên bao giờ cũng do gia trưởng làm chủ lễ. Mỗi lần cúng lễ, dù ít dù nhiều bao
giờ cũng có đồ lễ. Thông thường đồ lễ gồm trầu, rượu, hoa quả (mùa nào thức nấy)
vàng hương và nước lạnh. Trong trường hợp khẩn cấp, đêm hôm khuya khoắt cần phải cáo lễ,
đồ lễ có thế giảm đến mức tối thiểu, chỉ cần một chén nước lạnh, một nén hương thắp trên bàn thờ là đủ.
Cốt là ở lòng thành.
Tùy theo hoàn cảnh
gia đình chủ giàu nghèo, và tùy tính chất quy mô của từng buổi lễ, mà đồ lễ có
thổ gồm thiều thứ như: xôi chè, oản, chuối hoặc cỗ mặn…, có khi thêm cả hàng
mã…
Đồ lễ được sắm đầy
đủ đã đặt sẵn lên bàn thờ, gia trưởng khăn áo chỉnh tề, thắp nén hương cắm vào
bát bình
hương, rồi cung kính đứng trước bàn thờ khấn.
Trước bàn thờ tổ,
gia trưởng kính cẩn phải mời hết các cụ kỵ từ ngũ đại trở xuống, cùng với chú
bác, cô dì, anh chị em nội ngoại, những người đã khuất.
Ngày xưa văn khấn
các cụ thường dùng chữ nho, nhưng trong dân gian vẫn có người dùng chữ Nôm, nhất
là đốì với những gia đình vị trưởng lão đã qua đời, các con nhỏ chưa biết khấn
vái, việc khấn vái trong gia đình do người phụ nữ có tuổi phụ trách. Theo quan
niệm của người xưa thì tất cả các nghi lễ đều cấm đàn bà tham gia cúng lễ,
nhưng trong hoàn cảnh một số gia đình như chồng đi làm ăn xa hay đã qua đời, thường thì người vợ sẽ
đảm đương việc khấn cúng thay con cháu còn nhỏ.
Trước khi khấn phải
vái ba vái. Sau khi khấn xong gia trưởng lễ bốn lễ thêm ba vái, ta gọi là bốn lễ
. Cần nhớ rằng: trước khi cúng, bàn thờ đã có đèn thờ hoặc nến. Cũng có gia
đình trên bàn thờ có đỉnh trầm, nên đốt đỉnh trầm làm cho buổi lễ thêm uy nghi.
Hương thắp trên bàn thờ bao giờ cũng thắp số nén hương theo số lẻ. Do không biết
chữ Hán, nên văn khấn dùng chữ Nôm để tránh nhầm lẫn ngữ nghĩa chữ nọ chữ kia,
hoặc (loạn khấn trước đưa ra sau, làm mất ý nghĩa của văn khấn.
Đặc biệt từ sau khi
thực dân Pháp sang đô hộ nước ta, chữ quốc ngữ được dùng rộng rãi thay thế chữ
Hán và nhất là từ ngày Cách mạng Tháng 8 thành công 1945, hầu hết việc khấn vái
dân ta đều dùng tiếng Việt thay cho chữ Hán. Nói chung, văn khấn bao gồm một số
nội dung bắt buộc như nói rõ ngày tháng làm lễ, lý do lễ tạ, ai là người đứng
ra lễ tạ, ghi rõ họ tên tuổi, nơi sinh, trú quán, đồng thời liệt kê lễ vật và
cuối cùng là lời đề đạt cầu xin cho toàn gia quyến.
Sau khi gia trưởng
khấn lễ xong, con cháu trong gia đình (trừ trẻ nhỏ) cũng lần lượt theo thứ bậc
tới lễ trước bàn thờ bốn lễ rưỡi. Nhưng thường ở những ngày giỗ chạp mọi người
trong gia đình mới yêu cầu lễ đủ, ngoài ra chỉ cần gia chủ khấn lễ là được.
Ngày nay tại các thành thị, trong lễ bái có phần đơn giản hóa như người la lấy
vái thay lễ. Trước khi khấn vái ba vái ngắn. Khấn xong, vái thêm 4 vái dài và
ba vái ngắn thay cho bốn lễ rưỡi.
Tóm lại, trong việc
cúng lễ tổ tiên, lòng thành kính phải để lên hàng đầu. Trong lòng mình nghĩ như
thế nao quỷ thần đều biết rõ. Việc cúng bái mà xúc phạm đến tổ tiên là thiếu sự
hiếu thảo.
- ST-
