Trang Tử họ Trang tên Chu, tự Tử Hưu (cũng có sách viết Tử Mộc), người đất Mông nước Tống. Tổ tiên ông là Tống Đới Công, quân chủ nước Tống, bản thân ông là nhà tư tưởng, triết học và văn học trứ danh vào giữa thời kỳ Chiến Quốc. Trang Tử sáng lập ra trường phái triết học gọi là Trang học, là người kế thừa Lão Tử, là nhân vật tiêu biểu cho học phái Đạo gia thời kỳ Chiến Quốc, và là một trong những nhân vật tiêu biểu chủ yếu của học phái Đạo gia.
1. Liệt Ngự Khấu bắn tên
Trong cuộc sống, chúng ta sẽ phát
hiện ra, quyết định thành bại, thắng thua, không nhất định là trình độ kỹ thuật
cá nhân, mà là tâm thái của con người. Khi chúng ta lo được lo mất, khi tâm
chúng ta đầy lo nghĩ, thì những kinh nghiệm, kỹ thuật mà chúng ta có, đều không
thể thể hiện ra tốt nhất được.
Trong sách “Điền Tử Phương”,
Trang Tử kể câu chuyện thế này: Liệt Ngự Khấu chính là Liệt Tử – người đi ngược
gió để biểu diễn bắn tên cho Bá Hôn phu nhân. Trước khi bắn tên, ông đắc ý, rồi
trút bỏ vẻ kiêu căng, kéo căng dây cung, sau đó, đặt lên cánh tay mình một chén
nước đầy, giương cung bắn tên. Mũi tên thứ nhất vừa bắn ra, mũi tên thứ hai đã
lập tức bắn ra sát theo sau, mà mũi tên thứ ba cũng đã sẵn sàng căng dây, chén
nước trên cánh tay không gợn sóng chút nào. Liệt Ngự Khấu như một người bằng gỗ
đứng ở đó, hoàn toàn bất động.
Kỹ xảo bắn tên của Liệt Ngự Khấu,
không thể nói là không cao, nhưng người như thế có thực sự đạt đến cảnh giới
cao không? Bá Hôn phu nhân không cho là cao, nói rằng: “Thuật bắn tên của ông,
chỉ có thể coi là thuật bắn tên hữu tâm xạ tiễn, chứ không phải thuật bắn tên
vô tâm xạ tiễn”. Bá Hôn phu nhân nói thêm: “Bây giờ tôi mời ông, chúng ta cùng
leo núi cao, đi trên vách đá, đứng mép vực sâu trăm nhận (1 nhận khoảng 6,8
mét), tôi xem ông bắn tên như thế nào?”.
Bá Hôn phu nhân liền đi trước leo
lên ngọn núi cao, chân bước trên một mỏm đá phong hóa cheo leo vách đá, thân
ngay miệng vực sâu trăm trượng, sau đó quay người lại, đi lùi về phía vực sâu,
một mạch đến khi một phần chân tay đã thò ra khỏi vách đá cheo leo. Đứng ở đó,
Bá Hôn phu nhân mời Liệt Ngự Khấu leo lên bắn tên. Lúc đó, Liệt Ngự Khấu chỉ có
thể bò trên mặt đất, “mồ hôi chảy ròng ròng đến tận gót chân”.
Lúc đó, Bá Hôn phu nhân nói:
“Phàm là người cao minh chân chính, trông lên có thể thấu tận trời xanh, nhìn
xuống có thể thấy rõ suối vàng, dạo chơi bát cực, Thần khí chẳng đổi thay”.
Bá Hôn phu nhân lại nói với Liệt
Ngự Khấu rằng: “Giờ đây ông tâm run mắt hoa, bảo ông bắn tên, khả năng ông bắn
trúng rất nhỏ, rất nhỏ”.
Câu chuyện trên nói rõ rằng, nhất
định không được quá tin vào kỹ xảo, cũng có nghĩa là, không ai có thể sinh tồn
mà tách ra khỏi hoàn cảnh. Khi chúng ta đối diện với hoàn cảnh ác liệt, thì hãy
xem cảnh giới tâm thái chúng ta như thế nào. Khi cảnh giới tâm thái của một người
có thể chế ngự nỗi sợ hãi bên ngoài, người đó mới là người dũng cảm chân chính,
kỹ xảo của người đó mới có không gian phát huy. Còn nếu cảnh giới tâm thái của
một người bị hoàn cảnh khuất phục, thì người đó chẳng thể làm nên bất kỳ việc
gì.
Cảnh giới tâm thái của một người
có thể chế ngự nỗi sợ hãi bên ngoài, người đó mới là người dũng cảm chân chính.
Tâm thái của một người quyết định
trạng thái của người đó. Thế thì nội tâm cần đạt trạng thái như thế nào mới là
tốt nhất? Làm thế nào đạt được trạng thái đó?
Dưới cách nhìn của Trang Tử, cuộc
sống chân chính là tự nhiên, do đó không cần đi dạy dỗ cái gì, quy định cái gì,
mà là phải bỏ đi cái gì, quên đi cái gì, quên đi cái tâm đã hình thành, cái tâm
nhanh nhạy, cái tâm phân biệt. Nếu làm được như thế, thì còn cần đến tuyên truyền
chính trị, giáo hóa lễ nhạc, khuyên bảo nhân nghĩa nữa sao? Những tuyên truyền,
giáo hóa, khuyên bảo này, Trang Tử cho rằng đều là ‘ngụy’ trong nhân tính, do
đó phải trừ bỏ nó.
Dưới cách nhìn của Trang Tử,
không vướng mắc chính là không trái với tự nhiên. Không vướng mắc vào bất kỳ tư
tưởng, lợi ích nào hay sự vật nào, từ đó đạt được cảnh giới của Thánh nhân vô
vi thanh tịnh. Cuộc đời của chúng ta có hạn, mà tri thức là vô hạn, lấy cuộc đời
hữu hạn mà truy cầu cực đoan tri thức, lợi ích vô cùng, mà bỏ qua những cái tốt
đẹp quanh chúng ta, đó chính là vướng mắc, là chướng ngại. Trang Tử cho rằng,
chỉ khi không vướng mắc vào cái không vướng mắc, mới có thể sử dụng vật bằng
cái tâm du nhàn tự tại, mà không bị bất kỳ tư tưởng, lợi ích nào chế ngự, ràng
buộc, mới là thực sự sống hoàn toàn.
2. Kỷ Thanh Tử nuôi gà chọi
Trang Tử lại kể một câu chuyện gà
chọi: Kỷ Thanh Tử nuôi gà chọi cho đại vương. Đại vương tất nhiên rất thích chọi
gà, hy vọng Kỷ Thanh Tử có thể luyện được một chú gà chọi có thể xưng bá bốn
phương, có thể mau chóng xuất trận.
Qua 10 ngày, đại vương đi hỏi Kỷ
Thanh Tử: “Con gà của ta đã chọi được chưa?”. Kỷ Thanh Tử trả lời: :Vẫn chưa được,
vì con gà này “vẫn kiêu căng và cậy khí thế”. Con gà trống to lớn này khí thế mạnh
ức hiếp con gà khác, lông xù ra, ánh mắt rừng rực, vô cùng kiêu ngạo, trong
lòng đầy khí thế. Người bình thường chúng ta cho rằng, lúc này chẳng phải gà chọi
đang ở trạng thái tốt nhất đó sao? Nhưng người thực sự hiểu huấn luyện gà chọi
lại nói, lúc này hoàn toàn không chọi được.
Lại qua 10 ngày, đại vương lại hỏi.
Kỷ Thanh Tử trả lời: “Vẫn chưa được. Mặc dù khí thế của nó đã bắt đầu thu lại,
nhưng con gà khác hễ động, thì nó lập tức vẫn còn phản ứng, vẫn đi tranh đấu,
như thế vẫn chưa được”.
Lại qua 10 ngày nữa, đại vương lại
hỏi lần thứ ba. Kỷ Thanh Tử nói: “Vẫn chưa được. Nó bây giờ tuy phản ứng đối với
những cái bên ngoài đã nhẹ đi rất nhiều, nhưng ánh mắt nó vẫn còn nộ khí, chưa
được, cần đợi thêm”.
Lại 10 ngày nữa qua đi, đại vương
lại hỏi. Kỷ Thanh Tử cuối cùng nói: “Bây giờ cũng tạm được rồi. Những con gà
khác kêu lên muốn đánh, nó đã không phản ứng rồi”.
Bây giờ nó như thế nào? Nó bây giờ
“ngây ngô như gà gỗ”. Kỷ Thanh Tử nói, con gà này đã huấn luyện đến mức như con
gà bằng gỗ rồi, “đức của nó đã đầy đủ rồi”, tức là tinh thần tụ vào bên trong,
đức tính của nó đã được hóa vào trong rồi, đã thu vào trong rồi. Do đó con gà
này đứng ở kia, bất kỳ con gà nào trông thấy nó, đều vội vã bỏ chạy. Lúc này gà
có thể đi tham gia chọi gà được rồi.
Trong sách “Trang Tử”, có rất nhiều
câu chuyện ngụ ngôn gợi mở khiến chúng ta cảm ngộ sâu sắc, bởi vì nó cung cấp một
hệ thống phán đoán khác biệt hoàn toàn so với người bình thường chúng ta.
Chúng ta cho rằng, một con gà khi
đi chọi thì phải như dũng sỹ ra trận gióng 3 hồi trống, cần phải khí thế cao
ngút, dương dương đắc ý, cần phải có cái tâm quyết thắng, nhất định thắng phô
ra. Nhưng cảnh giới mà Trang Tử cho chúng ta thấy là, khi nó bỏ đi từng tầng từng
tầng sắc bén bên ngoài, đến khi trừ bỏ hết, đem tất cả sắc bén nhuệ khí đó nạp
vào nội tâm. Điều này không có nghĩa nó không còn ý chí chiến đấu nữa, mà ý chí
chiến đấu đã được thu vào bên trong, lúc này mới được gọi là toàn đức. Khi đấu
chọi thực sự sẽ giành được thắng lợi, không phải thắng bởi dũng mãnh, cũng
không phải bởi kỹ xảo mà thắng bởi đức tính.
3. Tử Khánh làm mộc
Trong thiên “Đạt sinh”, Trang Tử
kể câu chuyện người thợ mộc: Đây là một người thợ mộc nước Lỗ, tên gọi Tử
Khánh. Anh ta “cắt gỗ để trám”. Trám ở đây là trám cột trụ giá treo chuông trống,
trên có điêu khắc trang trí các mãnh thú. Trám còn có một cách giải thích khác
nữa, đó là một loại nhạc cụ, trên có điêu khắc trang trí hình con hổ.
Người thợ mộc này có thể trạm ra
các tác phẩm khiến “người trông thấy kinh hoàng như thấy quỷ Thần”. Người nhìn
thấy các tác phẩm của ông đều kinh ngạc vô cùng, cho rằng đó là quỷ Thần chế
tác, chứ con người làm sao có thể làm được như vậy? Những con thú trên cột sống
động như thật. Danh tiếng của Tử Khánh truyền xa, rồi truyền tới tai nhà vua.
Thế là vua nước Lỗ triệu kiến người thợ mộc Tử Khánh, muốn hỏi bí quyết huyền ảo
diệu kỳ trong đó.
Tử Khánh rất khiêm tốn, nói thần
là một thợ mộc, thần nào có bí quyết gì? Hoàn toàn không có kỹ xảo nào cả. Ông
nói với vua Lỗ: Khi thần chuẩn bị chạm trổ, thần không dám hao phí chút sức lực
nào của mình, mà dụng tâm trai giới. Mục đích trai giới là để ‘tĩnh tâm’, khiến
nội tâm mình thực sự yên tĩnh lại.
Trong quá trình trai giới, khi
trai giới đến ngày thứ 3, thần mới có thể quên được ‘mừng thưởng tước lộc’.
Cũng có nghĩa là, ý nghĩ “sau khi thần thành công có thể được phong công, được
thưởng, được chúc mừng…” thì đều phải vứt bỏ hết. Cũng có nghĩa là, trai giới đến
ngày thứ 3, thần đã có thể quên lợi. Trai giới đến ngày thứ 5, thần đã có thể
quên được ‘khen chê, đẹp xấu’. Cũng có nghĩa là đối với lời phỉ báng hay ca ngợi,
thị phi đúng sai, mọi người nói thần làm tốt cũng được, nói thần làm tệ cũng được,
thần đều không để ý đến nữa, cũng có nghĩa là thần đã quên danh tiếng rồi.
Vẫn phải tiếp tục trai giới. Đến
ngày thứ 7, thần đã có thể quên được ‘hình thể tứ chi’ của bản thân rồi. Cũng
có nghĩa là, đến ngày thứ 7, đạt được cảnh giới quên mình. Đến lúc này, thần đã
quên là thần đang làm việc cho triều đình rồi. Mọi người đều biết, làm việc cho
triều đình thì tâm lo ngay ngáy, nhiều tạp niệm, sẽ làm không tốt. Lúc đó, thần
sẽ vào núi. Sau khi vào núi, tĩnh tâm lại, tìm gỗ mà thần muốn, quan sát chất gỗ
của cây, thấy cái có hình thái thích hợp, dường như vật chạm thành hình đã ở
trước mắt. Sau đó, thần chặt cái cây thích hợp nhất đem về, thuận tay gia công,
là nó liền thành ra những cái hiện nay.
Tử Khánh cuối cùng nói, việc của
thần không việc gì là không làm ‘dĩ thiên hợp thiên’, có nghĩa là ‘lấy cái tự
nhiên hợp với cái tự nhiên’, đó chính là bí mật huyền diệu của thần.
Câu chuyện người thợ mộc khiến
chúng ta ý thức được, có một tâm thái tốt, bình thản, thì có thể đạt được trạng
thái tốt nhất, làm được ‘dĩ thiên hợp thiên’, mới có thể làm việc đến mức tốt
nhất.
Đây chính là “Đạo”, dùng những việc
của bản thân hợp với quy luật nhất để thích ứng với quy luật, vĩnh viễn không
được đọ sức với quy luật, không được trái quy luật, không được nỗ lực vô ích,
mà nên dùng cái tâm trong sạch sáng suốt của mình, dùng trí tuệ nhìn xem sự việc
nào có thể ‘dĩ thiên hợp thiên’. Thợ mộc trai giới 7 ngày, kỳ thực là vượt qua
ba giai đoạn:
Giai đoạn 1, quên đi lợi ích,
không còn nghĩ dùng công việc của mình để đạt lấy lợi ích thế gian.
Giai đoạn 2, quên đi danh dự,
không còn nghĩ đến việc thị phi khen chê của mọi người quan trọng thế nào đối với
bản thân.
Giai đoạn 3, quên đi bản thân,
con người chỉ đạt đến cảnh giới quên mình thì mới có thể làm việc tốt nhất được.
Thời đại bùng nổ thông tin như
ngày nay, nếu muốn thực sự làm động đến lòng người, làm thật tốt, thì ắt phải đạt
được đạo lý chất phác lại huyền diệu mà người thợ mộc đã cho chúng ta biết, đó
là cần phải vượt qua ba giai đoạn: Quên lợi, quên danh, quên mình. Nếu có thể
làm được 3 điểm này, chúng ta sẽ biết được chuẩn mực đại đạo thế gian, sẽ làm được
‘Thiên nhân hợp nhất’. Điều này có khó không? Cũng không hoàn toàn quá khó. Chỉ
cần chúng ta hướng vào tâm mình, tìm lại càng nhiều thứ đơn giản mộc mạc, đó
chính là cái gọi là ‘kiến tố nhi bão phác’, tức là ‘thấy cái mộc mạc, ôm cái chất
phác’.
-ST-
