1. Những
giai thoại về nhân duyên to lớn nơi cửa Phật
Những bậc chăn dân nghìn đời sau còn không nhìn
vào đây thì trông vào gương nào để tự soi mình nữa?
Khởi đầu từ triều vua Đinh Lê, nước ta đã thành một
nhà nước quân chủ độc đáo theo hình thức Nho Phật cùng trị quốc, đem đến một nền
chính trị vững mạnh xuyên suốt 2 triều Lý Trần. Trần Nhân Tông, một vị hoàng đế,
một Thiền sư đắc đạo là kết tinh của nền chính trị ấy, cuộc đời ông là một truyền
kỳ và là một tấm gương sáng cho tất cả những nhà lãnh đạo có tâm và có tầm.
Duyên lành đặt định, Kim Phật giáng sinh
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (陳昑),
sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ niên hiệu Thiệu Long năm thứ nhất (tức
7 tháng 12 năm 1258). Ông là con trai đầu lòng của Trần Thánh Tông và Nguyên
Thánh Thiên Cảm hoàng hậu Trần Thị Thiều. Thời nhà Trần kế tục truyền thống
sùng Phật tôn Nho của nhà Lý và nâng cao hơn một bậc khi tất cả các vua đầu đời
Trần đều tu hành tinh tấn. Nhân duyên và phúc lành to lớn trải nhiều đời đã đem
đến cho nước Nam một vị thánh nhân đắc đạo khai mở cả một thiền phái lớn, đó là
Phật Hoàng Trần Nhân Tông và phái Trúc Lâm Yên Tử.
Trải hai đời vua ông và cha đều là bậc chân tu, đến
đời hoàng đế thứ ba Trần Nhân Tông sự tu hành của các vua Trần đã thật sự đạt đến
cảnh giới rất cao vì Trần Nhân Tông đã khai sáng nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
nổi danh. Vua lên ngôi ngày 12 tháng 02 năm Mậu Dần (1278), đổi niên hiệu Thiệu
Bảo. Từ trước khi sinh ra, ông đã mang trên mình những ấn ký của một bậc tu
hành định trước đời này phải làm nên sự nghiệp to lớn.
“Trước kia Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh từng mộng
thấy Thần nhân trao cho hai thanh kiếm, bảo: Thượng đế có sắc, cho ngươi tự chọn
lấy! Thái Hậu bất chợt bật cười, bổng được cây kiếm ngắn, do đó có thai. Gặp
tháng dưỡng thai, bà chẳng chọn lựa món gì kỵ thai, nhà bếp dâng lên món chi bà
cứ ăn mà thai vẫn không sao, bà biết là có sức Thần trợ giúp. Đến khi Ngài sinh
ra, sắc như vàng ròng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Bên vai phải của Ngài có
nốt ruồi đen như hạt đậu to, những người xem biết, nói: Ngày sau ắt hay gánh
vác việc lớn.” (Thánh đăng ngữ lục)
Nhất tâm hướng Phật, phú quý tựa mây trôi
Do Thiên mệnh đặt định Ngài sẽ là người chân tu có
quả vị nên dù sống trong cung vàng điện ngọc và là Thái tử kế thừa ngôi báu,
tâm của Ngài vẫn chỉ một mực hướng về tu hành.
Ngài từng cố từ chối ngôi Thái tử, nhường cho em.
“Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng Thái Tử, Ngài cố từ
chối mấy lần, xin cho em mình thay thế đều không được vua cha chấp nhận. Thánh
Tông cưới trưởng nữ của Quốc mẫu Nguyên Từ cho Ngài, tức Thái hậu Khâm Từ. Tuy
sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc mà tâm Ngài vẫn hướng về đường tu.”
Hoặc bỏ cung điện trốn vào núi đi tu nhưng
không thành
“Một hôm, vào giữa đêm Ngài vượt thành trốn đi, định
vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người quá
mỏi nhọc, vua bèn vào nằm nghỉ trong Tháp. Vị tăng trong chùa thấy dáng mạo
Ngài khác thường, ông làm cơm thết đãi. Hôm ấy, Thái Hậu đem trình bày hết cho
Thánh Tông nghe, vua liền sai quần thần đi tìm khắp nơi, bất đắc dĩ Ngài phải
trở về.”
Thần Phật triển hiện, nhắc người mau tu
hành:
“Tới khi lên ngôi, dù ở trong cảnh
vinh hoa tột bực, nhưng Ngài vẫn tự giữ mình thanh tịnh. Có lần Ngài ngủ trưa
trong chùa Tư Phúc ở đại nội, chợt mộng thấy từ nơi rốn mọc lên hoa sen vàng, lớn
như bánh xe, trên hoa có đức Phật vàng, một người đứng bên cạnh chỉ Ngài, nói:
Biết đức Phật này chăng? Đức Phật Biến Chiếu đấy! Ngay đó, Ngài liền giật mình
tỉnh dậy, đem điềm mộng trình lên vua cha. Thánh Tông rất mừng cho là việc khác
thường.
Do đó, Ngài thường ăn chay lạt, thân thể ốm gầy,
Thánh Tông thấy lạ bèn hỏi. Ngài thưa thật nguyên do với vua cha. Thánh Tông
khóc, bảo: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự
nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao? Ngài nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt.”
(Thánh đăng ngữ lục)
Lời bàn:
Đáng quý thay đức Nhân Tông vì đã chuyển sinh vào
nước Việt ta mà vẫn tu thành Đạo. Dù cho bận rộn việc nước nhà, lại còn 2 lần
chống đánh ngoại xâm, nhưng người đều hoàn tất và vững bước đi trên con đường
chân tu đã ước định từ tiền kiếp. Xưa có câu nói “Thân người khó được, bây giờ
không tu thì đến khi nào tu?”. Vì khi chuyển sinh xuống trần, người ta dễ bị mê
mờ mà quên đi bản lai diện mục của mình. Những bậc chăn dân nghìn đời sau còn
không nhìn vào đây thì trông vào gương nào để tự soi mình nữa?
2. Hai lần
đại phá quân Nguyên Mông
Theo sách binh pháp thì người giỏi cầm quân là người
chiến thắng ngay từ khi cuộc chiến chưa bắt đầu và chiến công to lớn phải là
chiến công được thực hiện dễ dàng. Trần Nhân Tông và hai lần đánh bại quân
Nguyên Mông có thể coi là một ví dụ kinh điển cho loại đại tướng thiên tài nói
trên trong binh thư.
Lần xâm lăng thứ nhất của Mông Cổ chỉ mang tính chất
ném đá dò đường. Tuy bị nhà Trần đập tan nhưng nguy cơ lớn nhất vẫn còn đó. 30
năm sau, đoàn quân xâm lược cả thủy lẫn bộ khổng lồ của đế quốc Nguyên Mông
đang ở thời kỳ đỉnh cao sau khi quật ngã nhà Nam Tống, đã rầm rập tiến vào nước
ta với khí thế nghiêng trời lệch đất tưởng không gì có thể chống nổi. Thế nhưng
một vị hoàng đế Thiền sư nhân từ vốn dĩ không muốn làm vua đã cùng với đoàn
quân nhỏ bé của mình ung dung đánh bại triệt để đoàn quân được mệnh danh “cơn
thịnh nộ của Chúa trời” kia.
Chương Dương đoạt giáo giặc, Hàm Tử bắt rợ Hồ
Không chỉ là người tu hành chân chính với tâm từ
bi rộng khắp, Nhân Tông còn là một vị minh quân hiếm có trong lịch sử. Ông
không những đã điều hành đất nước vững mạnh, đánh tan hai lần xâm lược của đạo
quân khủng khiếp nhất thế giới mà còn mở rộng lãnh thổ 2 châu mà không tổn một
binh một tốt nào.
Từ nhiều năm trước tuy đất nước thái bình nhưng
vua Trần Nhân Tông đã tích cực làm rất nhiều sự chuẩn bị để đối phó với cuộc xâm
lăng ngày càng rõ ràng của nhà Nguyên.
“Nhâm Ngọ, [ Thiệu Bảo] năm thứ 4 [1282]. Mùa
đông, tháng 10, vua ngự ra Bình Than đóng ở vũng Trần Xá họp vương hầu và trăm quan, bàn kế sách công
thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu.
Quý Mùi, [ Thiệu Bảo] năm thứ 5 [1283]. Mùa đông,
tháng 10, vua thân hành dẫn các vương hầu điều quân thủy bộ tập trận. Tiến
phong Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn
quốc, sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị.
Giáp Thân, [Thiệu Bảo] năm thứ 6 [1284] Mùa thu,
tháng 8, Hưng Đạo Vương điều các quân của vương hầu, duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu,
chia các quân đóng giữ Bình Than và những nơi xung yếu khác.” (Đại Việt sử ký
toàn thư)
Quan trọng hơn cả những chuẩn bị đó, là sự đoàn kết
của lòng dân hoàn toàn đứng về phía triều đình, thể hiện ý chí của mình qua hội
nghị Diên Hồng lịch sử.
“Tháng 12, Trần Phủ từ Nguyên trở về, tâu rằng vua
Nguyên sai bọn thái tử Trấn Nam Vương Thoát Hoan, Bình Chương A Lạt và A Lý Hải
Nha đem quân lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành, chia đường vào cướp nước
ta.
Thượng hoàng triệu phụ lão trong nước họp ở thềm
điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão điều nói
"đánh", muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”. (Đại Việt sử ký toàn thư)
Năm 1285 cuối cùng nhà Nguyên đã quyết định xâm lấn
Đại Việt bằng một cuộc cường công cả hai mặt thủy bộ, sau nhiều năm uy hiếp bằng
ngoại giao không hiệu quả. Trước thế mạnh của giặc, quân ta đành phải vừa đánh
vừa lui.
“Ngày 26, giặc đánh vào các ải Vĩnh Châu, Nội
Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng, Quan quân đánh bất lợi lui về đóng ở bến Vạn Kiếp.” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Tuy thất lợi trước thế giặc mạnh, nhưng Trần Nhân
Tông với trí huệ của một người chân tu vẫn luôn bình thản chỉ huy toàn quân ứng
phó.
“Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân dân các lộ Hải
Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiền phong, vượt biển vào
Nam, thế quân lên dần. Các quân thấy vậy, không đạo quân nào mà không tới tập hợp.
Vua làm thơ đề ở đuôi thuyền rằng:
Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.
(Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ,
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân”)
(Đại Việt sử ký toàn thư)
Chưa hết mối lo trên bộ, thì cánh quân mấy chục vạn
thủy bộ từ biển đánh từ Chăm Pa lên do danh tướng lừng danh thế giới Toa Đô
(Sogetsu) với dự tính sẽ san phẳng nước ta bằng thế gọng kìm.
“Nguyên soái Toa Đô đem 50 vạn quân từ Vân Nam qua
nước Lão Qua, thẳng đến Chiêm Thành, hội với quân Nguyên ở Châu Ô Lý rôi cướp
châu Hoan, châu Ái, tiến đóng ở Tây Kết, hẹn trong ba năm sẽ san phẳng nước
ta”. (Đại Việt sử ký toàn thư)
Trong binh pháp có câu “kiêu binh tất bại”, quân
Nguyên Mông tuy không phải kiêu binh, nhưng họ đã có phần đánh giá thấp quân đội
nhà Trần. Họ không ngờ rằng nhà Trần vốn kế thừa nền tảng quân đội tinh nhuệ từng
phá Tống bình Chiêm của nhà Lý, giờ đây được lãnh đạo bởi hàng loạt danh tướng
đẳng cấp đương thời thì không phải là một đối thủ dễ ăn như các quốc gia khác từng
bại dưới tay Toa Đô.
“Vua bàn với bầy tôi rằng: "Bọn giặc nhiều
năm phải đi xa, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất mỏi mệt. Lấy nhàn
chống mệt, trước hết hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt là đánh bại được
chúng".
Mùa hạ, tháng 4, vua sai bọn Chiêu Thành Vương
(khuyết danh), Hoài Văn hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh
đón đánh giặc ở bến Tây Kết”.
(Đại Việt sử ký toàn thư)
Các danh tướng Đại Việt dưới sự chỉ huy của Nhân
Tông đã liên tiếp giáng những đòn nặng nề vào quân Nguyên Mông.
Đầu tiên là trận Hàm Tử Quan nổi tiếng, đúng thật
là “cầm Hồ Hàm Tử Quan” với Chiêu Văn Vương ghi công lớn cùng đạo quân Tống lừng
danh của ông.
“Quan quân giao chiến với quân Nguyên ở Hàm Tử
Quan. Các quân đều có mặt. Riêng quân của Chiêu Văn Vương Nhật Duật có cả người
Tống, mặc quần áo Tống, cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể
không phân biệt được, sai người dụ rằng: "Đó là quân Thát của Chiêu Văn đấy,
phải nhận kỹ chúng". Vì người Tống và người Thát, tiếng nói và y phục giống
nhau. Quân Nguyên trông thấy [quân Tống] đều rất kinh hãi, bảo nhau là người Tống
sang giúp, vì thế thua chạy. Trước kia, nhà Tống mất, nhiều người Tống theo ta,
Nhật Duật thu nạp họ, có Triệu Trung làm gia tướng. Cho nên chiến công đánh bại
giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả.
Tháng 5, ngày mồng 3, hai vua đánh bại giặc ở phủ
Trường Yên, chém đầu cắt tai giặc nhiều không kể xiết” (Đại Việt sử ký toàn
thư).
Tiếp đến là chiến thắng Chương Dương, “đoạt sáo
Chương Dương độ”, đuổi quân giặc ra khỏi thành Thăng Long do danh tướng Trần
Quang Khải chỉ huy Thánh Dực quân tiến đánh.
“Ngày mồng 7, thám tử báo tin: Toa Đô từ Thanh Hoá
tới.
Ngày mồng 10, có người từ chỗ giặc trốn về đến ngự
doanh tâu báo:
Thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản và
Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại
quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn. Bọn thái tử
Thoát Hoan, Bình chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Hai tướng giặc khét tiếng là Ô Mã Nhi (Omar) và
Toa Đô (Sogetsu) từng lừng danh với các chiến công hiển hách trên thế giới
nhưng nay lại phải đền tội cho sự tàn ác của chúng nơi đất Việt này, quả thật
là thiện ác hữu báo. Quân Nguyên Mông năm mươi vạn tan tác rút chạy về Trung Quốc.
“Ngày 17, Toa Đô và Ô Mã Nhi lại từ biển đánh vào
sông Thiên Mạc, muốn hội quân ở Kinh sư, để chi viện cho nhau.
Ngày 20, hai vua tiến đóng ở Đại Mang Bộ. Tổng quản
giặc Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Hôm đó, ta đánh bại giặc ở Tây Kết, giết
và làm bị thương rất nhiều, chém đầu Nguyên Soái Toa Đô.
Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hoá, hai
vua đuổi theo nhưng không kịp bắt được hơn 5 vạn dư đảng giặc đem về, Ô Mã Nhi
chỉ còn một chiếc thuyền vượt biển trốn thoát.
Hưng Đạo Vương lại giao chiến với Thoát Hoan và Lý
Hằng ở Vạn Kiếp, đánh bại được, giặc chết đuối rất nhiều. Lý Hằng đem quân hộ vệ
Thoát Hoan chạy về Tư Minh. Quân ta lấy tên tẩm thuốc độc bắn trúng đầu gối bên
trái của Hằng, Hằng chết. Tỳ tướng Lý Quán thu nhặt 5 vạn quân còn lại, giấu
Thoát Hoan vào một đồ đồng, chạy trốn về Bắc. Đến Tư Minh, Hưng Vũ Vương đuổi kịp,
dùng tên tẩm thuốc độc bắn trúng Lý Quán, Quán chết. Quân Nguyên tan vỡ lớn.”
(Đại Việt sử ký toàn thư)
Nhà Nguyên thua càng đau thì lại càng điên cuồng
vì đế quốc Nguyên Mông đang thời đỉnh cao vừa mới quật nhào nhà Tống hùng mạnh
mà nay lại thất bại thảm hại tại vùng đất phương Nam nhỏ bé xa xôi. Do đó vua
Nguyên ngay từ năm 1286 (1 năm sau thất bại lần trước) đã bắt đầu chiến dịch
xâm lược lần nữa.
“Bính Tuất, Trùng Hưng năm thứ 2 [1286] Tháng 3,
vua Nguyên sắc phong cho Thượng thư tỉnh Áo Lỗ Xích, Bình Chương sự Ô Mã Nhi,
Đại tướng Trương Văn Hổ điều 50 vạn quân, hạ lệnh
Hồ Quảng đóng 300 chiếc thuyền biển, hẹn tháng 8 hội cả ở Khâm Châu, Liêm Châu.
Lại ra lệnh quân ba hành tỉnh Giang Chiết, Hồ Quảng, Giang Tây xâm lược phương
Nam, mượn cớ đưa người đầu hàng là Trần Ích Tắc về nước lập làm An Nam Quốc
Vương.”
Đinh Hợi, Trùng Hưng năm thứ 3 [1287]
Nhà Nguyên phát Quân Mông Cổ, quân Hán Nam, 3 hành
Tỉnh Giang Hoài, Giang Tây, Hồ Quảng, lính Vân Nam, lính người Lê ở 4 châu
ngoài biển, chia đường vào cướp. Sai bọn vạn hộ Trương Văn Hổ đi đường biển, chở
70 vạn thạch lương, theo sau. Lại đặt Chinh Giao Chỉ hành thượng thư tỉnh do
Bình chương sự Áo Lỗ Xích, các Tham tri chính sự Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thống lĩnh
và chịu tiết chế của Trần Nam Vương". (Đại Việt sử ký toàn thư)
Bạch Đằng đại thắng, bởi Đại Vương coi thế giặc
nhàn
Tuy nhiên nhà Trần vốn đã 2 lần đánh thắng cường địch,
lại không đánh giá cao đoàn quân xâm lược quyết tâm báo thù kỳ này. Than ôi, một
đất nước nhỏ bé ấy mà hai lần đánh bại đoàn quân xâm lược khổng lồ mạnh nhất thế
giới, đến lần thứ ba còn bình thản đánh giá là “năm nay đánh giặc nhàn”, khí
phách hào hùng ấy thực chỉ có thể thấy được dưới thời Trần Nhân Tông, quả là
duy nhất trong lịch sử vậy. Đáng kính thay.
“Mùa đông, tháng 10, kiểm duyệt, diễn tập quân
lính điều động được.
Đinh Hợi, Trùng Hưng năm thứ 3 [1287],
Vua hỏi Hưng Đạo Vương:"Giặc tới, liệu tình
hình thế nào".
Vương trả lời: "Năm nay đánh giặc nhàn”.
(Đại Việt sử ký toàn thư)
Đối phó với đoàn quân như hổ như sói kia, vậy mà
chính sách của triều đình nhà Trần vẫn nhất quán và đầy tự tin vào năng lực và
sự chuẩn bị của mình, thậm chí không hề cần phải bắt thêm lính.
“Bính Tuất, Trùng Hưng năm thứ 2 [1286] Mùa hạ,
tháng 6, lệnh cho vương hầu, tôn thất mộ binh, thống lĩnh thuộc hạ của mình.
Vua lệnh cho Hưng Đạo Vương đốc thúc vương hầu tôn thất điều động quân lính, chế
tạo vũ khí, thuyền bè.
Quan chấp chính xin bọn tráng đinh sung quân để
tăng quân số lên nhiều. Trần Hưng Đạo nói :"Quân quý ở tinh nhuệ, không
quý ở số đông. Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm gì được?" (Đại Việt sử ký toàn thư)
Đúng như lời Hưng Đạo Vương dự liệu, quân giặc lần
này khá dễ phá. Bước ngoặt của cuộc chiến đã sớm diễn ra khi Nhân Huệ Vương
Khánh Dư mai phục thành công đánh tan đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ. Một đạo
cô quân vào đất địch mà không có lương lại không có tiếp viện thì kết quả chỉ
có bị tiêu diệt mà thôi.
“Khi ấy, thủy quân Nguyên đánh vào Vân Đồn, Hưng Đạo
Vương giao hết công việc biên thùy cho Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương
Khánh Dư. Khánh Dư đánh thất lợi thượng hoàng được tin, sai trung sứ xiềng
Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói với trung sứ:
"Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng
xin khất hai, ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn".
Trung sứ theo lời xin đó.
Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải
tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả
nhiên đến, [Khánh Dư] đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều
không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều. Lập tức sai chạy ngựa mang thư về báo.
Thượng hoàng tha cho tội trước không hỏi đến và
nói:
"Chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo
khí giới, nay đã bị ta bắt được, sợ nó chưa biết, có thể còn hung hăng
chăng?".
Bèn tha những tên bị bắt về doanh trại quân Nguyên
để báo tin. Quân Nguyên quả nhiên rút lui. Cho nên, năm này, vết thương không
thảm như năm trước, Khánh Dư có phần công lao trong đó.” (Đại Việt sử ký toàn
thư)
Sau khi bị đoạt mất quân lương, số phận quân
Nguyên coi như đã định sẵn thất bại. Quân nhà Trần dưới sự chỉ huy của hai vua
và Trần Hưng Đạo đã làm nên một chiến công vĩ đại bậc nhất trong sử Việt - chiến
thắng Bạch Đằng. Lần này không những đánh sập toàn bộ cuộc xâm lược và ý chí
xâm lược của nhà Nguyên mà còn bắt sống cả tướng chỉ huy khét tiếng khát máu của
giặc là Ô Mã Nhi (Omar) và bộ chỉ huy cùng nhiều quan chức cao cấp.
“Mậu Tý, [Trùng Hưng] năm thứ 4 [1288]. Mùa xuân,
tháng giêng, Ô Mã Nhi đánh vào phủ Long Hưng.
Ngày mồng 8, quan quân hội chiến ngoài biển Đại
Bàng, bắt được 300 chiếc thuyền giặc, 10 thủ cấp giặc, quân Nguyên bị chết đuối
rất nhiều.
Tháng 2, ngày 29, Ô Mã Nhi đánh vào trại Yên Hưng.
Tháng 3, ngày mồng 8, quân Nguyên hội ở sông Bạch
Đằng để đón thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ nhưng không gặp. Hưng Đạo Vương
đánh bại chúng.
Trước đó, Vương đã đóng cọc ở sông Bạch Đằng, phủ
cỏ lên trên. Hôm ấy, nhân lúc nước triều lên, Vương cho quân khiêu chiến rồi giả
cách thua chạy, bọn giặc đuổi theo, quân ta cố sức đánh lại.
Nước triều xuống, thuyền giặc vướng cọc hết. Nguyễn
Khoái chỉ huy quân Thánh dực dũng nghĩa đánh nhau với giặc, bắt sống Bình
chương Áo Lỗ Xích. Hai vua đem quân tiếp đến, tung quân đánh lớn, quân Nguyên
chết đuối nhiều không kể xiết, nước sông do vậy đỏ ngầu cả. Đến khi Văn Hổ tới
quân mai phục hai bên bờ hăng hái xông ra đánh, lại đánh bại chúng. Nước triều
rút nhanh, thuyền lương của Văn Hổ mắc trên cọc, nghiêng đắm gần hết. Quân
Nguyên chết đuối rất nhiều. Bắt được 400 chiếc thuyền. Nội Minh tự Đỗ Hành bắt
được Ô Mã Nhi và Tích Lê Cơ Ngọc dâng lên thượng hoàng. Thượng hoàng sai dẫn
lên thuyền ngự, cùng ngồi nói chuyện với chúng và uống rượu vui vẻ.
Ngày 17, đem các tướng giặc bị bắt là Tích Lệ Cơ
Ngọc, Nguyên soái Ô Mã Nhi, Tham chính Sầm Đoàn, Phàn Tiếp, Nguyên soái Điền,
các Vạn hộ, Thiên hộ làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng”. (Đại Việt sử ký toàn
thư)
Lời bàn:
Theo sách binh pháp thì người giỏi cầm quân là người
chiến thắng ngay từ khi cuộc chiến chưa bắt đầu và chiến công to lớn phải là
chiến công được thực hiện dễ dàng. Trần Nhân Tông và hai lần đánh bại quân
Nguyên Mông có thể coi là một ví dụ kinh điển cho loại đại tướng thiên tài nói
trên trong binh thư. Câu nói đầy tự tin khi dẫn quân về Nghệ An và lời nhận xét
“năm nay đánh giặc nhàn” của Hưng Đạo Vương sẽ vĩnh viễn được lưu truyền trong
lịch sử quân sự vinh quang của dân tộc ta. Quả thật là chỉ khi “tâm tĩnh” thì
“trí huệ sinh”, có lẽ các vị tướng cầm quân đều nên tu tập Thiền định thì mới đạt
đến trình độ đỉnh cao như vua Trần vậy.
Thế mới hay để trị quốc làm nên sự nghiệp vĩ đại
nghìn năm thì người lãnh đạo đều không phải vì bản thân mà cầu danh cầu lợi. Vì
sao mà Phật gia giảng “Không”, Đạo gia giảng “Vô”, bởi vì tinh thần vô dục vô cầu
mới có thể đạt đến trí huệ to lớn nhất và thành quả tốt đẹp nhất.
3. Giai thoại
tu hành và những vần thơ bất tử
Người đời hay biết đến vua Trần Nhân Tông qua những
chiến công hiển hách cũng như là một Thiền sư đắc Đạo. Nhưng chính tâm hồn
trong sáng nhất tâm hướng Phật của ông mới là điều đáng quý nhất, vì nó là cội
nguồn của những thành tựu lớn lao của ông. Tâm hồn ấy được thể hiện qua những
giai thoại và các vầng thơ Thiền bất hủ còn truyền lại đến nay.
Thi nhân tài năng, những vầng thơ Thiền bất
hủ
Không những là một vị vua anh minh, giỏi đánh giặc,
Trần Nhân Tông còn là một vị thi nhân tài năng và một thiền sư đắc Đạo nổi tiếng.
Những vần thơ ông lưu lại đến ngày nay vẫn là kiệt tác trong nền văn thơ nước
nhà.
Đứng trước nét đẹp bình yên của một cảnh hoàng hôn
tịch mịch nơi thôn dã, thi nhân Trần Nhân Tông đã viết:
Thiên Trường vãn vọng
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Bản dịch:
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không.
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. (Ngô Tất Tố dịch)
Bản thân là hoàng đế tôn quý với trách nhiệm nặng
nề, nhưng Trần Nhân Tông luôn dùng yếu chỉ của Thiền để giữ cho tâm mình thanh
tịnh. Có lẽ quốc gia được bình yên hay chiến thắng cường địch cũng là từ cái
tâm thanh tịnh của bậc quân chủ vậy.
Qua bài thơ dưới đây ta có thể cảm nhận được điều ấy.
Cư trần lạc đạo phú
Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Bản dịch:
Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên,
Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
( HT. Thích Thanh Từ dịch)
Lên ngôi báu từ lúc còn trẻ, lại phải gánh vác nhiều
đại sự triều chính, thật khó mà viên dung được cuộc sống của một vị vua và lẽ sắc
không của Phật Đà. Vậy mà ngài vẫn kiên trì tu tập cho đến khi có thành tựu, quả
thật đáng khâm phục.
Xuân vãn
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Bản dịch:
Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,
Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.
Chúa xuân nay đã thành quen mặt,
Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng.
(Ngô Tất Tố dịch)
Thiền sư đắc Đạo, những giai thoại còn truyền
lại
Từ những giai thoại truyền kỳ và nếp sống đặc biệt
của Trần Nhân Tông từ thuở nhỏ, ta có thể thấy rằng ông chính là một người mang
Thiên mệnh đặc biệt. Không chỉ là làm vua đem lại hạnh phúc cho muôn dân, mà
ông còn phải tu thành Đạo, để lại cho đời Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Những câu
chuyện về hành trình tu học của ông có lẽ còn ly kỳ hơn cả những chiến công chống
giặc lừng lẫy bên trên.
Khi vua cha ngài là Trần Thánh Tông - cũng là một
thiền giả - sắp mất, thân thể vô cùng đau đớn chống chọi những giây phút cuối
cùng. Sự hấp hối khó khăn đó làm cho ông không thể bảo toàn tâm thanh tịnh để
chờ đợi cái chết. Trần Nhân Tông khi đó còn trẻ nhưng đã có căn cơ tu tập vững
chắc, ngài đã nhẹ nhàng dùng bài kệ của thiền sư Vĩnh Gia nhắc chở vua cha, khiến
cha ngài hốt nhiên đại Ngộ mà ra đi thanh thản.
“Rồi vua đuổi hết kẻ hầu hạ, chỉ còn một mình Nhân
Tông đứng hầu một bên, thưa:
- Bệ hạ còn nhớ lời của ngài Vĩnh Gia chăng?
Liễu liễu kiến vô nhất vật,
Diệc vô nhân hề diệc vô Phật.
Đại thiên sa giới hải trung âu,
Nhất thiết Thánh Hiền như điện phất.
Nhậm thị thiết luân đảnh thượng triền,
Định tuệ viên minh chung bất thất.
Dịch:
Rành rành thấy, không một vật,
Cũng không người chừ, cũng không Phật.
Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.
Dẫu cho vòng sắc trên đầu chuyển,
Định tuệ sáng tròn vẫn không mất.
Vua nghe xong, bất chợt cười lên rồi gõ chiếc gối
tụng:
Rành rành thấy, không một vật,
Cũng không người chừ cũng không Phật.
Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.
Xong, ngay chiều hôm đó sấm gió nổi dậy, thấy một
vầng ánh sáng tròn rọi nơi
bức vách ngăn, vua liền băng, hưởng thọ 51 tuổi,
nhằm ngày 22 tháng 05 năm Canh Dần (1290)". (Thánh đăng ngữ lục)
Sau khi chiến thắng ngoại xâm, nhường ngôi cho
con, hoàn thành nghĩa vụ hoàng đế, ngài liền vào núi tu hành thỏa nguyện ước từ
ấu thơ. Sau khi đắc Đạo, ngài rời núi và đi khắp nơi thuyết Pháp độ tăng, dạy
dân chúng tu hành. Cả triều đình từ vua đến quan hầu như đều theo gương ngài mà
tu tập Phật pháp, thọ giới quy y Tam Bảo.
“Tháng 10 năm Kỷ Hợi niên hiệu Hưng Long thứ bảy
(1299), Ngài đi thẳng vào núi Yên Tử, siêng năng chuyên lo tu hành, sống theo
mười hai hạnh đầu đà, tự lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Ngài lập chùa chiền,
cất tinh xá, thuyết pháp độ tăng, học chúng tụ về đông đảo. Sau đó, Ngài đến
chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường đón chư tăng về đây lập hội giảng pháp trải
qua mấy năm.
Kế Ngài lại đi vân du thong thả, đến trại Bố Chính
lập am Tri Kiến ở lại đây.
Năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long thứ mười hai
(1304), Ngài đi khắp nơi thôn xóm khuyến hóa dân chúng từ bỏ những dâm từ, đồng
thời dạy họ tu hành Thập thiện.
Mùa đông năm ấy vua Anh Tông dâng biểu thỉnh Ngài
vào đại nội trao cho tâm giới Bồ tát tại gia. Hôm Điều Ngự vào thành vương
công, bá quan chuẩn bị đầy đủ lễ nghi nghinh đón và sau đó đồng thọ giới pháp.”
( Thánh đăng ngữ lục)
Những Thiền sư đắc Đạo như Trần Nhân Tông sau khi
hoàn thành nhiệm vụ của mình ở trần gian đều biết trước ngày mình sẽ ra đi.
Giai thoại phút lâm chung của Trúc Lâm Yên tử còn lưu lại đến nay cho chúng ta
thấy sự kỳ diệu của Phật pháp vậy.
“Ngày 20, Bảo Sát trên đường đi xuống, đến Doanh
Tuyền thì thấy một đám mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn rồi hạ thấp xuống
Doanh Tuyền, nước bỗng đầy tràn, dâng cao lên mấy trượng. Giây lát, mặt nước lặn
xuống như bình thường, Bảo Sát thấy hai con rồng đầu to như đầu ngựa, ngẩng đầu
lên cao hơn trượng, hai mắt như sao sáng, chốc lát thì lặn xuống.
Từ đó, suốt mấy ngày liền trời đất u ám, gió trốt
nổi dậy, mưa tuyết phủ lấp cả cây cối, vượn khỉ vây quanh am gào la, chim rừng
kêu thảm thiết.
Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời
sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý.
Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính
là giờ ta đi!
Bảo Sát hỏi: “Tôn Đức đi đâu?”
Điều Ngự đáp:
“Tất cả pháp chẳng sanh,
Tất cả pháp chẳng diệt,
Nếu hay hiểu như thế,
Chư Phật thường hiện tiền.
Nào có đến đi gì?”
Bảo Sát thưa: “Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt
thì thế nào?”
Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo: “Chớ nói
mớ!”
Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch.
Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am
Ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc
che trên giàn hỏa.
Ngày thứ tư Tôn giả Phổ Tuệ (Pháp Loa) từ núi Yên
Tử vội vã đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong, Pháp Loa thu lấy
ngọc cốt, được xá lợi năm màu hơn năm trăm hạt lớn, còn hạt nhỏ cỡ hạt lúa hạt
cải thì nhiều vô kể. Vua Anh Tông, Quốc phụ Thượng Tể cùng đình thần đem thuyền
rồng đến lễ bái dưới chân núi, gào khóc vang trời, sau đó đón ngọc cốt và xá lợi
xuống thuyền rồng đưa về kinh. Từ triều đình cho đến thôn quê đều rất mực
thương tiếc.” (Thánh đăng ngữ lục)
Lời bình:
Xưa vua Thuấn ba lần từ chối ngai báu, cai trị bằng
nhân đức, không dùng đến binh đao mà bốn phương quy phục, dựng nên cơ nghiệp thịnh
trị muôn đời mà hậu thế vẫn còn mãi ngưỡng vọng. Mấy nghìn năm đã qua, mấy ai
còn biết đến thánh nhân trị đời là thế nào? Mà nay một cõi nước Nam xa xôi nhỏ
bé, lại có bậc Thánh nhiều lần muốn bỏ cả ngai vàng mà đi tu, dùng một nhúm
quân nhỏ bé mà hai lần đập tan quân xâm lược Nguyên Mông vốn đang làm rung chuyển
thế giới.
Bằng sự tu tập bản thân mà khiến cả triều đình và
nhân dân sùng thượng Chính Pháp, làm lành lánh dữ. Chỉ bằng chân trần vân du
hóa độ chúng sinh mà hóa giải binh đao 2 nước, thêm vào lãnh thổ 2 châu. Thế mới
hay để trị quốc làm nên sự nghiệp vĩ đại nghìn năm thì người lãnh đạo đều không
phải vì bản thân mà cầu danh cầu lợi. Vì sao mà Phật gia giảng “Không”, Đạo gia
giảng “Vô”, bởi vì tinh thần vô dục vô cầu mới có thể đạt đến trí huệ to lớn nhất
và thành quả tốt đẹp nhất. Cũng chỉ có người tu mới có thể làm được mà thôi, chỉ
có tu hành thì làm gì cũng đem lại lợi ích lớn nhất cho chúng sinh.
Minh
Bảo
