1. Thân thế bí ẩn của Lão Tử
“Sử ký - Lão Tử Hàn Phi liệt truyện”
viết: “Lão Tử là người thôn Khúc Nhân, xã
Lệ, huyện Khổ, nước Sở. Ông họ Lý, tên Nhĩ, tự Đam, là thủ thư trông coi tàng
thất nhà Chu”. Do đó có thể đoán Lão Tử là người nước Sở.
“Lão” là ý gọi người tuổi cao Đức
lớn. “Tử” là cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác. Ông nổi tiếng là
một ẩn sĩ đại tài, là bậc thánh nhân có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử Á Đông
cũng như toàn nhân loại.
Do học cao, biết rộng lại phải chứng
kiến những cảnh trái ngang trong giai đoạn suy tàn của Thiên tử nhà Chu nên Lão
Đam lặng lẽ cáo quan ở ẩn. Khi qua cửa Tây thành Hàm Cốc gặp Doãn Hỷ, vị quan
coi cổng này đã xin Lão Đam để lại đôi lời vàng ngọc: “Tiên sinh Ngài muốn ẩn
cư, sau này không còn được nghe Ngài dạy bảo nữa, kính xin tiên sinh viết sách
để truyền lại cho hậu thế!”
Lý tiên sinh không nỡ phụ lòng đã
dừng chân viết hai thiên sách bàn về Đạo (37 chương) và Đức (44 chương) rồi lẳng
lặng cưỡi trâu ra đi. Cuốn sách dài 81 chương gần 5.000 chữ được lịch sử gọi là
“Đạo Đức Kinh” hoặc “Lão Tử ngũ Thiên văn”, đến hiện tại vẫn đem lại giá trị để
đời cho mọi người học tập. Đây cũng là cuốn sách có ảnh hưởng lớn, khiến Lão Tử
được công nhận là ông tổ của Đạo giáo.
Đó là cách mà Lão Tử để lại ảnh
hưởng mạnh đến văn hóa Trung Hoa từ cổ chí kim. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về xuất
thân và con người của ông, người ta lại khó lòng xác minh chính xác các thông
tin của vị ẩn sĩ này.
Truyền thuyết cho rằng ông sinh
ra trong những năm cuối thời Xuân Thu, ở huyện Khổ, nước Sở, hiện nay là Lộc Ấp
thuộc tỉnh Hà Nam, có thuyết là Oa Dương - An Huy, có thuyết là Tùy Châu - Hồ Bắc,
có thuyết là Kinh Môn - Hồ Bắc…
Một số truyền thuyết khác còn cho
rằng, khi sinh ra tóc ông đã bạc trắng, vì ông đã nằm trong bụng mẹ 70 năm rồi
mới ra đời, điều này giải thích cho cái tên của ông, có thể được dịch thành
"bậc thầy già cả".
Về ngày sinh mất của Lão Tử cũng
không có ghi chép xác định. “Sử Ký” có ghi: “Có lẽ Lão Tử trên 160 tuổi, có người
nói trên 200 tuổi, do ông tu Đạo mà trường thọ vậy”.
Trong “Sử ký”, Tư Mã Thiên ghi
chép 2 thuyết.
Một là: “Có người nói, Lão Lai Tử
cũng là người nước Sở, viết sách 15 thiên, nói là để Đạo gia sử dụng, sống cùng
thời với Khổng Tử”.
Thuyết thứ hai là: “Sau khi Khổng
Tử mất 129 năm, mà sử ký Chu Thái sử Đam gặp Tần Hiến Công nói: 'Ban đầu Tần và
Chu hợp, hợp 500 năm thì ly tán, ly tán 70 năm thì xuất hiện bá vương'”. Có người
nói Đam tức là Lão Tử, cũng có người nói không phải.
Giới học thuật ngày nay căn cứ “Sử
Ký”: “Khổng Tử đến nước Chu, hỏi Lão Đam về lễ” suy đoán, Lão Tử hơn Khổng Tử
20 tuổi, năm sinh của ông ước là năm 711 trước Công Nguyên.
2. Khổng Tử bái kiến Lão Tử
Một ngày vào năm 538 TCN, Khổng Tử
nói với đệ tử là Nam Cung Kính Thúc rằng: “Lão Đam, người giữ chức Tàng thất sử
của nhà Chu, bác cổ thông kim, biết cội nguồn của lễ nhạc, hiểu rõ mấu chốt của
đạo đức. Nay ta muốn đến Chu xin thỉnh giáo, trò có muốn đi cùng không?”.
Nam Cung Kính Thúc vui mừng đồng
ý, lập tức tâu lên vua nước Lỗ. Vua Lỗ đồng ý cho ông đi, đồng thời cấp cho ông
một cỗ xe song mã, một đứa nhỏ hầu, một người đánh xe, và cử Nam Cung Kính Thúc
hộ tống Khổng Tử lên đường.
Lão Tử thấy Khổng Tử xa xôi ngàn
dặm đến, vô cùng vui mừng.
Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.
Khổng Tử nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được”.
Lão Tử nói: “Nếu Đạo là vật hữu hình, có thể lấy đem dâng cho người, thế thì mọi
người tranh nhau lấy dâng cho quân vương. Nếu Đạo có thể tặng cho người, mọi
người sẽ đem tặng cho người thân. Nếu Đạo có thể thuyết giảng rõ ràng, mọi người
đều sẽ thuyết giảng cho anh em. Nếu Đạo có thể truyền cho người khác, thế thì mọi
người đều sẽ tranh nhau truyền lại cho con cái. Nhưng những điều nói trên đều
không thể được, nguyên nhân rất đơn giản, đó là khi cái tâm con người không nhận
thức đúng đắn về Đạo, thì Đạo sẽ không bao giờ vào đến tâm người ấy”.
Khổng Tử nói: “Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”,
“Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc
từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học
trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó
thuyết phục quá!”.
Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết
giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những
tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu
chân, thì có gì khác nhau?”.
Sau lần đối thoại ban đầu, Lão Tử
lại dẫn Khổng Tử thăm Đại phu Trường Hoằng. Trường Hoằng cực kỳ tinh thâm nhạc
lý, truyền thụ cho Khổng Tử nhạc luật, nhạc lý, đồng thời dẫn Khổng Tử đi quan
sát các lễ tế Thần, khảo sát nơi truyền giáo, nghiên cứu các lễ nghi lễ đền,
làm cho Khổng Tử cảm thán không ngớt, thọ ích rất nhiều.
(Sau này, khi Khổng Tử ở nước Tề có may mắn được
thưởng thức nhạc vũ “Đại thiều”. Sau khi thưởng thức xong thì lòng khoan khoái
ngây người ra, miệng không còn biết vị, ba tháng ròng ăn thịt không thấy mùi vị,
thì cảm động than rằng: “Không ngờ nhạc lại có thể đạt đến cảnh giới cao siêu kỳ
diệu như thế này!”. Đây chính là điển cố “Ba tháng không biết mùi vị thịt” được
ghi chép trong “Luận ngữ”).
Khổng Tử lưu tại đây vài ngày rồi
từ biệt Lão Tử.
Lão Tử tiễn đưa ông ra ngoài công
quán rồi nói: “Tôi nghe nói, kẻ phú quý tặng
người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói. Tôi không phú cũng chẳng quý,
không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời. Thời nay, kẻ thông minh mà
sâu sắc, sở dĩ gặp nạn, thậm chí dẫn đến cái chết, là do hay chê cái sai của
người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do
hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề
tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.
Khổng Tử bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.
Khi Khổng Tử đến bờ sông Hoàng
Hà, thấy nước sông cuồn cuộn, sóng cuộn đục ngầu, khí thế như vạn ngựa đang
phi, âm thanh như hổ gầm sấm động.
Khổng Tử đứng trên bờ rất lâu, bất
giác nói thương cảm: “Cái đã qua là như
thế này đây, ngày đêm không ngừng! Nước sông Hoàng Hà cuộn chảy không ngừng,
tháng năm của con người qua đi chẳng dừng, nước sông chẳng biết chảy đi đâu, đời
người chẳng biết đi về đâu?”.
Nghe thấy Khổng Tử nói mấy câu
này, Lão Tử nói: “Con người sống ở giữa
trời đất, nên cùng với trời đất là một thể. Trời đất vạn vật là tự nhiên vậy.
Con người cũng là thuận theo tự nhiên. Người có thay đổi từ trẻ em, thiếu niên,
tráng niên, và già, cũng giống như trời đất có xuân, hạ, thu, đông đổi thay, có
gì buồn đâu? Sinh ra trong tự nhiên, chết trong tự nhiên, cứ để nó tự nhiên,
thì bản tính không loạn. Không để nó theo tự nhiên, tất bật trong nhân nghĩa,
thì bản tính bị trói buộc. Công danh còn trong tâm, thì cái tình lo nghĩ nảy
sinh. Lợi dục giữ trong tâm, thì cái tình phiền não càng tăng thêm”.
Khổng Tử giải thích rằng: “Học trò lo Đại Đạo không được thực hiện,
nhân nghĩa không được thực thi, thì chiến loạn không ngừng, quốc loạn không
yên, ví như cuộc đời ngắn ngủi, chẳng có công lao gì cho đời, không thể giúp gì
cho dân, vậy thì tiếc lắm thay”.
Một lúc sau Lão Tử chỉ con sông
Hoàng Hà mênh mông, nói với Khổng Tử: “Ông
sao không học đức của nước?”
Khổng Tử nói: “Nước có đức gì?”.
Lão Tử nói: “Cái thiện cao nhất như nước vậy: Nước thiện, có lợi cho vạn vật mà
không tranh, ở nơi mà mọi người đều ghét, đó là đức khiêm nhường vậy. Sông biển
sở dĩ có thể làm vua của trăm suối khe, là do nó giỏi ở chỗ thấp. Thiên hạ
không có gì mềm mại yếu đuối hơn nước, mà những cái rắn chắc mạnh mẽ lại không
cái nào có thể thắng được nước, đó là đức nhu vậy. Do đó nhu thắng cương (mềm
thắng cứng), nhược thắng cường (yếu thắng mạnh). Vì nước không có hình thái cố
định, nên có thể vào mà không bị ngăn cách, do vậy có thể thấy vô ngôn chi giáo
(giáo hóa không cần nói), vô vi chi ích (lợi ích mà không cần phải làm)”.
Khổng Tử nghe xong, bỗng bừng tỉnh
ngộ, nói: “Lời này của tiên sinh, khiến học
trò bừng tỉnh: Mọi người ở trên cao, chỉ riêng nước ở dưới thấp; mọi người ở chỗ
dễ chịu, riêng nước ở chỗ hiểm trở; mọi người ở chỗ sạch sẽ, riêng nước ở chỗ
dơ bẩn. Chỗ nước ở toàn là chỗ mà mọi người ghét, thì ai còn tranh với nước
đây? Đây chính là cái thiện cao nhất vậy”.
Lão Tử gật đầu nói: “Ông có thể dạy được! Ông phải nhớ kỹ: Không
tranh với đời, thì thiên hạ không ai có thể tranh cùng, đó là học theo đức của
nước vậy. Nước gần với Đạo. Đạo không nơi nào không có, nước không nơi nào
không có lợi, tránh chỗ cao mà về chỗ thấp, chưa bao giờ trái ngược, là giỏi
tìm chỗ đứng. Ở chỗ không, nên trong vắt tĩnh lặng, sâu không thể dò tìm, là giỏi
làm vực sâu. Tổn mà không kiệt, làm mà không cầu báo, là giỏi làm việc nhân vậy.
Tròn ắt sẽ xoay, vuông ắt sẽ gãy, bịt ắt sẽ dừng, khơi ắt sẽ chảy, đó là giỏi
giữ chữ tín. Gột rửa mọi dơ bẩn, đo chỉnh cao thấp, là giỏi xử lý mọi vật. Dùng
để chở thì nổi, dùng để soi thì trong, dùng để công phá thì tất cả những gì
kiên cố vững chắc cũng không thể địch nổi, đó là giỏi dùng khả năng. Ngày đêm
không nghỉ, tràn đầy rồi mới tiến tiếp, là giỏi chờ thời vậy.
Do đó bậc thánh nhân tùy thời mà
hành (hành sự tùy theo thời vận), bậc hiền giả ứng sự nhi biến (ứng biến tùy
theo sự việc). Bậc trí giả vô vi nhi trị (vô vi mà trị vì cai quản), bậc đạt giả
thuận thiên nhi sinh (thuận theo lẽ trời mà sinh ra).
Ông lần này đi rồi, nên bỏ cái ngạo
khí trong lời nói và biểu cảm, xóa bỏ cái chí dục ở dung mạo. Nếu không, người
chưa đến mà tiếng tăm đã đến, thân chưa tới mà gió đã động, hiển lộ phô trương,
như hổ đi trên phố, ai dám dùng ông?”.
Khổng Tử nói: “Lời của tiên sinh, là từ đáy lòng tiên sinh
mà vào tận tâm can học trò. Học trò thọ ích rất nhiều, cả đời không quên. Học
trò sẽ tuân theo chẳng dám trễ nải, để tạ ân của tiên sinh”.
Nói xong, Khổng Tử từ biệt Lão Tử,
lên xe cùng Nam Cung Kính Thúc, lưu luyến đi về hướng nước Lỗ.
Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt
3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm
sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:
“Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng
luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng
của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn
đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.
Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể
dùng lưỡi câu để bắt lên.
Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh
huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt
được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.
Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong
thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra
cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc
là người hay là Thần nữa. Lão Đam, thực sự là Thầy của ta!”.
Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng
sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với
hậu nhân.
-ST-
