1. Ngũ đức và ngũ sắc liên quan tới hưng vong của triều đại
Thế giới của chúng ta là một thế
giới đa sắc. Các quốc gia, dân tộc khác nhau đều có những màu sắc truyền thống
và nét đặc sắc của riêng mình. Những gam màu này không chỉ mang đến cho người
nhìn cảm thụ thị giác bề mặt, mà nó còn truyền tải nội hàm lịch sử và truyền thống
của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới…
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh xã hội
hiện đại hóa ngày nay, truyền thống chân chính so với “truyền thống” trong nhận
thức phổ biến của đại chúng có vẻ tương đồng, nhưng cũng có những bất đồng, thậm
chí có nhiều khác biệt rất lớn. Vì màu sắc truyền thống ở các nơi rất phong phú
và đa dạng, chủng loại bàng tạp nên khó có thể diễn tả hết trong một bài viết,
bởi thế tác giả bài viết này chỉ nhắm vào một vài ví dụ về các loại màu sắc mà
bạn đọc quen thuộc hơn, từ đó cùng các bạn khám phá những bí ẩn của thế giới
màu sắc.
Mối liên hệ giữa ngũ đức và ngũ sắc
Trong lý niệm của người Trung Quốc
hiện đại, khi nói về màu sắc truyền thống, nhiều người, không hẹn mà gặp, có thể
nghĩ ngay đến màu đỏ. Không ít người nghĩ rằng màu đỏ là màu của lễ hội: khi kết
hôn, người ta sẽ trang trí đại lượng sắc đỏ trong phòng ốc, cô dâu chú rể mặc
áo cưới màu đỏ; trong dịp năm mới, người ta sẽ viết những câu đối Tết trên giấy
đỏ; tất cả các loại lễ hội, lễ kỷ niệm đều quen sử dụng màu đỏ làm chủ đạo… đó
là chưa nói đến những tuyên truyền của ‘chế độ đỏ’ về cái gọi là “Trung Quốc Đỏ”
vì những lý do chính trị. Trong suy nghĩ của nhiều người, màu đỏ dường như mang
một nội hàm cực kỳ chính diện, người ta thực sự nghĩ rằng màu đỏ tươi chói lọi
chính là biểu tượng truyền thống của đại cát đại lợi!…
Tuy nhiên, nếu bạn nghiên cứu văn
hóa Trung Quốc cổ đại, bạn có thể phát hiện ra rằng, trong số ba tôn giáo truyền
thống của Trung Quốc, bất luận là Nho giáo trung chính bình hòa, Đạo giáo thanh
tịnh vô vi, hay là Phật giáo tứ đại giai không, đều không dung hợp với thứ kích
thích thị giác cực độ của màu đỏ tươi ‘hiện đại’ này. Thời Trung Quốc cổ đại,
tông màu sắc các triều đại khác nhau hoặc là trang nghiêm, hoặc là bình hòa, hoặc
là giản dị, hoặc là tao nhã… nhưng đều không quá chói lói và kích thích mắt.
Tính cách hướng nội của người Trung Quốc so với sự phô trương đến hoa mắt của
màu đỏ tươi là hoàn toàn tương phản, nó khác biệt một trời một vực.
Vậy, màu sắc truyền thống của
Trung Quốc là màu gì?
Ở đây chúng ta trước tiên cần tìm
hiểu một học thuyết rất nổi tiếng do Trâu Diễn - bậc thầy về âm dương thời Chiến
Quốc - đề xuất trên cơ sở thuyết Ngũ Hành, gọi là “Ngũ đức chung sử thuyết”.
“Ngũ đức” trong “Ngũ đức chung sử thuyết” dùng để chỉ 5 loại đức tính đại diện
cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, tương ứng là Kim đức, Mộc đức, Thủy đức,
Hỏa đức, Thổ đức. Mà “chung sử” (kết và khởi) chính là biểu thị ý nghĩa “ngũ đức”
vận chuyển tuần hoàn lặp đi lặp lại. Điều nổi tiếng nhất của học thuyết này là
nó đã giải thích được sự luân hồi của các triều đại từ giác độ của Ngũ Hành
tương sinh, tương khắc và có ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế.
Theo như học thuyết này của Trâu
Diễn, lý do tại sao một triều đại có thể thống trị thiên hạ, là vì họ đạt đến một
đức trong số năm ngũ đức mà Thiên thượng ban cho. Nhà thống trị nhờ đức này mà
thụ mệnh Trời ban, nhờ đó mới có thể thành tựu Thiên tử.
“Ngũ đức chung sử thuyết” đã được lịch sử thừa
nhận rộng rãi. Từ thời Tần, Hán đến thời Tống, Liêu và Tấn, quan viên của các
triều đại đều thảo luận chính thức nhằm xác định vận đức của họ và bộc bạch cho
thiên hạ. Sở dĩ như vậy là vì, dù cho thế lực nào đó có thể dùng vũ lực cường đại
để lật đổ triều đại trước, nhưng nếu họ không chứng minh được mình có đủ tính đức
cần có để chính thống thụ mệnh Trời ban làm vua thiên hạ, thì khó mà khiến dân
tin phục, và không thể trường tồn; vì vậy, đó cũng là căn cứ lý luận cơ bản để
một triều đại giải thích sự thống trị hợp pháp của họ. Các quan viên triều
Nguyên, Minh, Thanh tuy không chính thức tuyên cáo họ thuộc đức tính nào, nhưng
các vị hoàng đế từ triều Minh đều tự xưng là “Phụng Thiên Thừa Vận Hoàng Đế”,
cũng chính là xuất phát từ tư tưởng này.
Các triều đại khác nhau đối ứng với
các đức tính khác nhau trong ngũ đức, và ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ
trong văn hóa truyền thống đối ứng với năm màu: trắng, xanh, đen, đỏ và vàng.
Do đó, các triều đại khác nhau cũng tôn sùng màu sắc khác nhau. Như đã đề cập
trước đó, nhà Tần diệt nhà Chu, tin rằng đó là thuận ứng thiên đạo, dùng Thủy
khắc Hỏa, mà Thủy đối ứng với màu đen; Tần triều tôn sùng màu đen, nên hoàng đế
nhà Tần dùng sắc đen trong trang phục triều đình. “Sử ký: Tần Thủy Hoàng bổn
ký” cũng xác nhận điểm này: “Thủy hoàng suy chung sử ngũ đức chi truyền, dĩ vi
Chu đắc Hỏa đức, Tần đại Chu đức, chúng sở bất thắng. Phương lệnh Thủy đức chi
thủy, cải niên thủy, triều hạ giai kỷ thập nguyệt sóc, Y phục mao tinh tiết kỳ
giai thượng hắc” (Ý tứ là: Hoàng đế khởi thủy dùng chung sử ngũ đức mà truyền,
vì nhà Chu là Hỏa đức, nên Tần triều [Thủy đức] bất khả chiến bại Chu đức. Từ
nay khởi đầu Thủy đức, khởi đầu niên đại mới, triều đại bắt đầu từ mùng một
tháng mười. Y phục, cờ xí đều màu đen).
Cũng giống như vậy, Đường Huyền
Tông Lý Long Cơ đã viết trong “Phong thái sơn ngọc điệp văn”: “Thiên khải Lý thị,
vận hưng Thổ đức”, từ đó có thể thấy rằng nhà Đường là Thổ đức; vì vậy, nhà Đường
sùng thượng sắc vàng. Tuy nhiên, sùng thượng sắc vàng không có nghĩa là tất cả
mọi người đều có thể mặc y phục màu vàng. Ngược lại, màu vàng trở thành màu sắc
chỉ được chuyên dụng trong hoàng thất, dân gian không được phép mặc nó.
Trong triều đại sùng thượng Hỏa đức,
màu sắc phục sức có sắc đỏ, nhưng do đặc điểm kỹ thuật nhuộm cổ Trung Hoa và việc
bài trừ các màu sắc chói mắt, nên màu đỏ thời xưa hoàn toàn khác với màu đỏ
chói lọi, tức mắt ngày nay. Nói một cách chính xác, các màu có sắc đỏ như
giáng, xích, chu, đan, hồng, phi, thiến v.v… trong cổ ngữ đều là những màu khác
nhau, màu đỏ truyền thống thâm và dịu hơn, điều này tương đối dễ chấp nhận đối
với mọi người. Lấy cung điện của triều đình nhà Minh và nhà Thanh làm ví dụ,
màu đỏ chu sa trên tường cung điện thực sự là màu pha giữa đỏ, cam và xám hơn,
không phải màu đỏ chói giống thời hiện đại. Đồng thời, nếu triều đình sùng thượng
màu đỏ của Hỏa đức, thì có nghĩa là không phải ai cũng có thể tùy tiện sử dụng.
Thử tưởng tượng, người dân bình thường sao có thể mặc quần áo cùng màu với
hoàng đế? Vì vậy so với các triều đại khác, màu sắc này sẽ càng bị hạn chế nhiều
hơn.
Ví dụ, mặc dù quan viên nhà Minh
không chính thức công bố thuộc tính đức vận chính thức của họ trước thiên hạ,
nhưng nhiều tài liệu chính thức cũng đề cập rằng: nhà Minh là lấy Hỏa đức mà lập
triều. Lưu Trần, quan đại thần đầu triều Minh, trong “Quốc sơ sự tích”, đã phát
biểu minh xác như sau: “Thái Tổ dĩ Hỏa đức vương, sắc sùng xích”. Minh triều
sùng thượng xích (màu đỏ) trong Hỏa đức, do đó dân thường không được lạm dụng.
Màu đỏ được chia thành nhiều dòng đỏ khác nhau tùy theo sự khác biệt về sắc, và
có quy định chi tiết về các dịp và thứ hạng được sử dụng. Dân gian bị cấm sử dụng
màu đỏ đậm, bình dân phổ thông muốn dùng màu đỏ chỉ có thể dùng màu nhạt hơn
như hồng đào, chỉ trong một số nghi lễ lớn mới được nới lỏng các hạn chế về màu
sắc theo tình huống.
2. Màu đỏ: sắc màu kỵ húy, ít được cổ nhân sùng thượng…
Từ ghi chép trong chính sử có thể
thấy: cổ nhân Trung Quốc từ bao đời nay không sùng thượng màu đỏ, đặc biệt là
không lấy màu đỏ làm chủ đạo như hiện nay, bởi vậy việc sử dụng loại màu sắc
này có không ít những cấm kỵ và ngoại lệ…
Điều đáng nói là chữ “红” (hồng) cổ đại và chữ “红” (đỏ máu) trong Trung văn hiện
đại không cùng một khái niệm. Sách “Thược dược” của nhà Đông Hán có giải thích:
“红, bạch
xích bạch sắc”. Nói cách khác, “红” (đỏ –
hồng) trong quan niệm của người Trung Quốc cổ đại thực chất là một loại màu hồng,
không phải màu đỏ mà người ta nghĩ tới ngày nay. Tuy nhiên, để thuận tiện cho
việc tìm hiểu của độc giả hiện đại, tác giả vẫn gọi “红”
là các màu đỏ giáng (đỏ nâu), xích (đỏ thâm), chu (đỏ tươi), đan (đỏ cam)… vốn
là những màu đỏ theo quan niệm của người hiện đại.
Ngoài ra, từ tầng cao hơn mà xét,
mỗi triều đại đã viết nên lịch sử và để lại văn hóa cho các thế hệ sau, các nền
văn hóa mà mỗi triều đại mang lại đều có nguồn gốc khác nhau, màu sắc thể hiện
tự nhiên cũng khác nhau; đây cũng là biểu hiện của sự đa dạng về màu sắc truyền
thống. Vì vậy, thuyết ngũ đức và ngũ sắc chỉ là giải thích ở tầng diện nhất định
tại thế gian, không phải là căn bản.
Cổ nhân không thịnh hành màu đỏ…
Do các màu sắc khác nhau được các
triều đại khác nhau sùng thượng, nên thuyết gọi “màu đỏ là màu lễ hội truyền thống”
là vô căn cứ. Thời nhà Thương là một ví dụ điển hình, người dân thời đó tin rằng
màu đỏ là màu máu, tượng trưng cho cái chết, vì vậy màu đỏ trở thành màu sắc được
dùng trong tang lễ, ma chay thời bấy giờ.
Tình huống cổ nhân khi xưa kết
hôn mặc áo cưới cũng bất đồng. Trong các thời đại khác nhau đã xuất hiện các
màu đen, trắng, trầm, nhạt, xanh, đỏ… và nhiều màu khác đều xuất hiện, và ở
Trung Quốc cổ đại, hiếm khi nghe nói cô dâu và chú rể đều được phục sức bằng một
màu đỏ tuyền như bây giờ. Đa số họ, nếu có sử dụng màu đỏ thì cũng chỉ là một
người mặc thôi, bởi sự phân biệt giữa nam và nữ nên người xưa đặc biệt cẩn trọng
việc này.
Một ví dụ khác là câu đối xuân,
có nhiều phán đoán khác nhau về nguồn gốc của chúng, kinh qua sự phát triển dần
dần của lịch sử lâu dài, nó trở thành thứ giống như ngày nay, nhưng thuở ban đầu
câu đối không phải được viết trên giấy đỏ. Một số quốc gia châu Á chịu ảnh hưởng
của văn hóa truyền thống Trung Hoa đã kế thừa phong tục từ xa xưa là trưng câu
đối Tết vào dịp năm mới hoặc đầu xuân, và nó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Ví
dụ, người Hàn Quốc cũng dán các câu đối xuân, và mọi người có thể thấy rằng hầu
hết họ đều sử dụng chữ đen giấy trắng.
Ấn tượng của người Trung Quốc về
câu đối xuân sắc đỏ là bắt đầu vào thời nhà Minh, khi những văn nhân viết câu đối
xuân lên giấy hồng và dán chúng lên tường hoặc cửa. Theo quan điểm màu sắc học
mà nói, màu sắc này chỉ được sử dụng như một màu tô điểm cho hoàn cảnh xung
quanh.
Nhưng đến thời Thanh triều, giấy
đỏ không còn được sử dụng để viết các câu đối xuân trong hoàng cung. Theo cuốn
“Tiền giấy nhà Thanh” ghi chép: “Đại nội cung điện đối xuân, sử dụng lụa trắng,
do Hàn lâm Cẩn thư trình tấn”. Nhiều người đến thăm Tử Cấm Thành ngày nay và ngạc
nhiên khi thấy câu đối xuân màu trắng bên trong, vì họ tưởng rằng câu đối xuân
sắc đỏ mới là quan niệm truyền thống.
Ngoài ra, trong các trường sở tôn
giáo truyền thống của Trung Quốc, chẳng hạn như câu đối xuân trong tự viện và
am quán cổ, thường sử dụng giấy màu vàng nhạt, không dùng màu đỏ.
Màu đỏ: sắc màu kỵ húy…
Từ ghi chép trong chính sử có thể
thấy, cổ nhân Trung Quốc từ bao đời nay không sùng thượng màu đỏ, đặc biệt là
không lấy màu đỏ làm chủ đạo như hiện nay, điều này thậm chí còn khó thấy hơn với
kỹ thuật nhuộm cổ xưa… bởi vậy việc sử dụng loại màu sắc này có không ít những
cấm kỵ và ngoại lệ.
Nhiều người am hiểu văn hóa dân
gian đều biết rằng, dân gian đồn rằng ví tiền không thể là màu đỏ, nếu không sẽ
phá tài lộc. Có nhiều cách giải thích khác nhau cho câu nói này: một số người
nói rằng vì màu đỏ là thuộc Hỏa, trong ngũ hành sinh khắc, Hỏa khắc Kim, nên ví
đựng tiền màu đỏ có thể khắc Kim tiền; một số người khác lại nói rằng màu đỏ là
ẩn dụ của “xích tự” (thâm hụt), có nghĩa là rằng dễ tiêu hết tiền, hoặc huyết bổn
vô quy (vốn liếng tiêu tán hết)… có đúng như thế không thì chúng ta chưa bàn tới,
nhưng không phải vô duyên vô cớ mà người ta lại kỵ húy một số loại màu sắc. Từ
góc độ tâm lý học, con người trong tiềm ý thức chắc hẳn đã có tâm lý phòng bị đối
với màu đỏ.
Về phương diện trụ trạch (nhà ở,
căn hộ), hầu hết các thầy phong thủy đều phản đối việc đặt quá nhiều đồ vật hay
tranh ảnh màu đỏ trong nhà khiến ngũ hành mất cân bằng, phá hỏng thế phong thủy
trong nhà, tổn hại vận thế của gia đình. Các nhà tâm lý học cũng cho rằng đại
lượng màu đỏ khiến con người dễ bị kích động tinh thần, và không nên để mọi người
tiếp xúc với màu này quá nhiều. Ở góc độ y tế, các bác sĩ phản đối việc sử dụng
màu đỏ làm màu chủ đạo trong nhà ở hoặc phòng điều trị. Ở trong môi trường có màu
đỏ lâu dễ gây mỏi thị giác, dẫn đến một số bệnh tật liên quan, nguy hiểm đến sức
khỏe.
Mọi người dường như có một bản
năng cảnh giác và đề phòng đối với màu đỏ, và vận dụng quan niệm đó vào đời sống
xã hội. Ví dụ, hầu hết các biển báo màu đỏ trên đường đều cho biết nguy hiểm hoặc
cấm chỉ. Một số nghiên cứu tin rằng: điều này có thể liên quan đến kinh nghiệm
con người tích lũy trong tự nhiên. Trong tự nhiên, dù là động vật, thực vật hay
côn trùng, tuy không phải là tất cả, nhưng rất nhiều sinh vật màu đỏ tươi đều
có độc. Vì vậy, mọi người luôn cảm thấy nguy hiểm khi nhìn thấy những sinh vật
có ngoại diện màu đỏ tươi, điều này làm nảy sinh bản năng cảnh giác với loại
màu sắc này.
Có một tình huống tương tự trong
văn hóa. Dân gian Trung Quốc có một câu nói rằng “đan thư bất tường”, ý nghĩa
là nhận được một bức thư viết bằng màu đỏ là không may mắn. Vì vậy, ngày nay một
số người nói rằng bạn không thể viết một lá thư bằng bút đỏ, bởi vì trong một
lá thư tuyệt giao, các chữ đều là màu đỏ.
Có những căn nguyên lịch sử cho lập
luận này. Thời xưa, quan ngự y dùng bút đỏ để ghi tên những người bị xử tử,
ngoài ra trong dân gian còn truyền tụng rằng vua thường dùng bút chu sa để viết
vào sổ phân định sinh tử. Điều này cũng khiến không ít người nghĩ rằng viết tên
ai đó bằng mực đỏ có hàm ý là nguyền rủa người đó chết đi.
Dân gian còn truyền ngôn rằng màu
đỏ dễ chiêu mời ma quỷ, nên một số lão nhân không cho người nhà mặc y phục màu
đỏ vào ban đêm. Truyền ngôn này có đúng hay không thì không cần nói, nhưng nó
liên quan đến một nền văn hóa cổ đại mà nhiều người không hiểu biết nhiều về
nó, đó là nhiều quỷ quái được mô tả trong các cuốn sách cổ của Trung Quốc thời
kỳ sơ khai đều có màu đỏ.
Ví dụ, trong kinh điển Phật giáo
thời nhà Đường có tên “Pháp uyển châu lâm”, mô tả một con quỷ “phu thể xích sắc,
thân thậm trường tráng” (da đỏ thâm, thân thể cường tráng); trong “Linh quỷ
chí” của triều đại Đông Tấn cũng nói về “nhất xích quỷ, trường khả trượng hứa”
(một con quỷ đỏ, thân dài khoảng một trượng); trong “Luận hoành” của thời Đông
Hán có ghi chép về “nhân kiến quỷ giả, ngôn kỳ sắc xích” (người thấy con quỷ,
ngôn ngữ kỳ lạ, thân màu đỏ).
Không chỉ vậy, rất nhiều ma quỷ
còn thích mặc y phục màu đỏ. Tập 319 của “Thái Bình quảng ký” kể rằng: Có một
người nọ bị bao vây bởi bốn đến năm trăm con quỷ. Chúng “thân dài hai trượng và
đều mặc màu đỏ”. Sau đó, vì người này đã nhất tâm mặc niệm thần Bắc Đẩu, nên mấy
trăm con quỷ áo đỏ biết rằng người này “chính tâm tại Thần”, liền buông tha ông
ta.
Không chỉ có thân màu đỏ, các thủ
đoạn công kích của quỷ cũng có màu đỏ. Trong “Luận hoành” chương 22 về quỷ, có
một câu nói rằng “quỷ, độc đồng sắc”; vì vậy quỷ phát xuất ra độc tính để tấn
công cũng có màu đỏ; Trung văn mô tả “cung thi giai chu đồng” (cung và tên của
quỷ đều màu đỏ) – thậm chí ngay cả vũ khí của nó, tất cả đều màu đỏ…
Hết thảy những ví dụ trên đủ để
minh chứng rằng màu đỏ trong văn hóa truyền thống Trung Quốc không phải là điềm
cát tường như người hiện đại nghĩ tưởng. Tất nhiên, là một thành viên của sắc
phổ, màu đỏ không nên bị kỳ thị, bởi vì các màu sắc khác nhau có sự phân biệt tầng
thứ khác nhau, và nội hàm của chúng cũng hoàn toàn bất đồng. Những gì người viết
đang nói ở đây chỉ là biểu hiện ở tầng diện văn hóa dân gian trên thế giới,
giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và bao quát hơn, từ đó mà cẩn trọng hơn khi
sử dụng màu sắc này trong đời sống thường nhật.
3. Vàng, tím, thiên thanh: những sắc màu biểu trưng cho sự cát tường,
tôn quý…
Có thể thấy rằng theo truyền thống,
cả màu vàng (hoàng) và màu tím (tử) đều được trân quý. Hai màu sắc này nhìn bề
ngoài thì khác biệt rất lớn, nhưng thực chất không hề mâu thuẫn, thậm chí hai
màu này còn thường xuyên được sử dụng cùng nhau…
Trong văn hóa truyền thống, một
màu khác có thể được sánh với sự tôn quý và phổ dụng của màu vàng kim, đó là
màu tím (紫色
– tiếng Hán Việt đọc là “tử sắc”). Màu sắc này được biết đến nhiều nhất từ khi
điển cố: “Tử khí Đông lai” (màu tím đến từ phương Đông) của Đạo gia xuất hiện;
thế nhân tin rằng màu tím đại biểu cho may mắn tốt lành, và Đạo gia cũng thực sự
chú trọng màu tím, ví như, nơi Tiên nhân cư ngụ được gọi là “tử phủ” (phủ màu
tím), kinh sách của Đạo gia được gọi là “tử thư” (sách tím)…
Màu tím biểu tượng cho cát tường
và cao quý
Vì nguyên lai siêu phàm của nó,
“tử” (tím) đã sớm trở thành một màu sắc biểu tượng cho sự tôn quý trong văn hóa
truyền thống. Quyển 48 của sách ‘Hậu Hán thư’ viết: “Thiên hữu tử vệ cung, thị
Thượng Đế chi sở cư dã, Vương giả lập cung, tượng nhi vi chi”. (Ý tứ là: trên
Thiên thượng có hoàng cung màu tím, là nơi Thượng Đế cư ngụ. Bậc vương giả lập
cung, theo đó mà làm). Bởi vì cổ nhân Trung Quốc sùng thượng “Thiên – Nhân hợp
nhất”, nên quy hoạch thành thị cũng cần thiết kế phù hợp với Thiên đạo. Vì
Hoàng Đế trên thiên thượng cư ngụ trong hoàng cung màu tím, nên những tinh tú
màu tím từ thời cổ đều được gọi là “Đế tinh”. Là người thụ mệnh Trời ban làm
hoàng đế tại nhân gian, tự xưng là “thiên tử” (con trời), thì nơi thiên tử cư
ngụ cũng cần liên hệ với hoàng cung màu tím của Thượng thiên. Do đó có thể lý
giải được vì sao trong lịch sử, cung Lạc Dương trong các triều đại Tùy và Đường
được đặt tên là “Tử Vệ Thành”, và cung điện của các triều đại nhà Minh và nhà
Thanh được gọi là “Tử Cấm Thành”.
Có thể thấy rằng theo truyền thống,
cả màu vàng (hoàng) và màu tím (tử) đều được trân quý. Hai màu sắc này nhìn bề
ngoài thì khác biệt rất lớn, nhưng thực chất không hề mâu thuẫn, thậm chí hai
màu này còn thường xuyên được sử dụng cùng nhau. Đại Tạng Kinh mô tả nhà Phật
chính là dùng đại lượng màu tím và vàng kim. Ví như trong “Quan Phật tam muội hải
Kinh” (Phật thiền định Kinh) có mô tả về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: “Phật Thích
Ca Mâu Ni thân dài trượng sáu, phát ra ánh quang màu vàng kim và tím về phía những
hành giả”. Các vị Phật khác cũng được mô tả là “tím kim”, ví dụ, đối với Tì Bà
Thi Phật (Phật Vipassī) cũng là “thân tím kim sắc, tám vạn bốn ngàn tướng” mà
hình dung, và Đức Phật Kassapa cũng là “Thân tím kim sắc”.
Nhiều người trong giới tu luyện
biết rằng, cùng là một màu, nhưng trong các không gian khác nhau, có thể thể hiện
ra màu sắc khác nhau. Thậm chí ngay cả những người bình thường cũng có thể hiểu
được một số tình huống tương tự thông qua kinh nghiệm, chẳng hạn như khi nhìn
chằm chằm vào màu đỏ, rồi nhắm mắt lại, thì dư ảnh thị giác màu xanh lá cây sẽ
xuất hiện trước mắt họ. Không chỉ vậy, một số nghiên cứu còn phát hiện ra rằng
vàng kim cũng có thể là sắc tím.
Như chúng ta đã biết, vật chất được
tạo thành từ các vi lạp cực nhỏ để tạo nên các vi lạp lớn hơn. Chẳng hạn với
vàng kim, tại tầng diện vi quan, nếu biến các vi lạp to nhỏ thành vi lạp nano
(1 nanomet bằng 0,000001 mm) thì các vi lạp nano vàng kim trong môi trường chất
lỏng có thể là nước hoặc gel, và trong dung dịch này, các vi lạp nano vàng kim
có kích thước dưới 100 nanomet sẽ tạo ra dung dịch có màu đỏ, còn các vi lạp
trên 100 nanomet sẽ tạo dung dịch có màu xanh lam hoặc tím. Tất nhiên, dù chúng
xuất hiện với màu sắc nào thì bản chất những vật chất này đều là vàng kim.
Thí nghiệm sắc vàng kim nano từ đỏ
sang tím. Năm bình trên chứa đầy dung dịch vàng kim, chỉ là trong mỗi bình các
vi lạp to nhỏ của vàng kim bị cải biến; phần dưới là giản đồ các vi lạp vàng
kim cấp nano với các kích thước khác nhau. Ở tầng diện vi quan, các vi lạp vàng
kim nano có kích thước khác nhau sẽ tạo thành trình hiện vàng kim có màu sắc
khác nhau.
Hiện tượng này có thể khiến người
ta nhớ đến những câu chuyện kể trong một số tác phẩm kinh điển. Trong thế giới
của Thần và Phật được ghi lại, mọi thứ đều là vàng; nhưng khi nhìn kỹ, sinh mệnh
và mọi vật bên trong đều có màu sắc riêng của chúng. Những người có tư tưởng bị
cầm cố trong mô thức tư duy cơ giới hóa hiện đại nghĩ rằng nội dung trong các
tác phẩm kinh điển truyền thống là tự mâu thuẫn lẫn nhau - nhưng họ không ngờ rằng
chính phương pháp tư duy bình diện hóa ở trình độ thấp đã phong bế khả năng tiếp
xúc với không gian lập thể ở trình độ cao hơn. Hơn nữa, màu vàng kim cũng có
nhiều tầng thứ khác nhau của vàng kim, từ thâm sâu mà nhìn chúng cũng khác
nhau…
Các nhan liệu màu tím là vàng kim
cũng tồn tại trong thế giới mỹ thuật. Một ví dụ nổi tiếng hơn trong lịch sử là
một loại men sứ màu đỏ tím có tên “Cassius’scher Purpur” từ Đức vào thế kỷ 17.
Vào giữa thế kỷ 19, nó được nghiên cứu bởi nhà vật lý người Anh Michael
Faraday, phát hiện ra rằng thành phần của sắc tố này thực chất là những hạt
vàng cực mịn.
Tất nhiên, người ta không dùng
vàng kim để chế tạo màu tím. Tuy nhiên, trước khi hình thành nền văn minh công
nghiệp hiện đại, hầu hết việc khai thác sắc liệu chỉ có thể dựa vào nguyên liệu
tự nhiên, do đó, nguyên liệu để chế tạo màu tím ở phương Đông và phương Tây
cũng vô cùng khan hiếm. Ở Trung Quốc cổ đại, thuốc nhuộm màu tím thường được
chiết xuất từ rễ cây cỏ tím có sản lượng khá thấp, nhưng cần một lượng lớn cây
cỏ tím, qua gia công nhuộm nhiều lần, lại rất dễ phai màu. Ở phương Tây thời kỳ
đầu, màu tím được chiết xuất từ những con ốc sên Murex rất nhỏ, vì mỗi con ốc
sên chỉ có thể cung cấp rất ít màu và thao tác phức tạp, khiến giá thành cực kỳ
đắt đỏ; một số được chiết xuất từ nước ép của quả việt quất châu Âu, nhưng
chúng có một phần màu sắc ngả sang lam, khá khác với màu tím của ốc Murex.
Ngoài ra, cũng có những nguồn nguyên liệu khác với sản lượng cực kỳ thấp nên
tôi sẽ không giới thiệu.
Những nguyên liệu thô khan hiếm
và đắt tiền này đã dẫn đến địa vị cao của màu tím trên thị trường cổ đại, khiến
màu sắc này trở nên rất được quý trọng trong thế giới phương Đông và phương
Tây. Ví dụ, nhà Đường ở Trung Quốc quy định chỉ các quan từ tam phẩm trở lên mới
được mặc quan phục màu tím, dân gian không được phép; ở phương Tây, hoàng đế
Caesar rất thích mặc trường bào màu tím, và dần dần quan niệm màu tím biểu
trưng cho sự cao quý đã trở thành một truyền thống. Thậm chí, hàng trăm năm
sau, hoàng gia Byzantine còn dùng cụm từ “sinh ra trong sắc tím”
(Porphyrogenitus) để biểu thị xuất thân chính thống của mình.
Màu xanh lam của thiên không và
màu xanh lam của Thanh kim thạch: Những sắc màu tôn quý
Trong môi trường không ô nhiễm,
màu xanh lam là màu sắc có diện tích lớn nhất mà mọi người có thể nhìn thấy, vì
nó là màu sắc căn bản của thiên không bao la.
Màu sắc của thiên không không phải
là một màu xanh lam đơn nhất không biến hóa. Tùy theo thời điểm mà ban ngày có
màu lam nhạt và ban đêm có màu lam sẫm; mà theo sự thay đổi của mùa và thời tiết,
nó có khi có màu xanh tím, có khi là xanh ngọc bích …
Văn hóa truyền thống của không ít
dân tộc đều có một thuyết tương tự như “Thiên Địa đối ứng”. Màu xanh lam thiên
không này có thể đối ứng với sắc lam của một loại bảo thạch màu xanh trên trái
đất, và màu của nó có thể là xanh lam đậm, xanh da trời, xanh tím, và xanh ngọc
bích, nhiều loại sắc lam khác nhau, được gọi là “Thanh kim thạch”, phương Tây gọi
là “Lapis lazuli”.
Trong sự truyền thừa nền văn hóa
cổ xưa của mình, các dân tộc khác nhau đã nhận ra rằng loại đá quý này là tượng
trưng của thiên khung và Thần thánh. Hàng ngàn năm trước, cả người Sumer, người
Ai Cập và người Ấn Độ cổ đại đều coi thanh kim thạch Lapis lazuli như một báu vật
phi phàm, chỉ sử dụng nó trong các nghi lễ tế tụng, thờ cúng và trừ tà. Những
di sản văn hóa truyền thống này rất phi phàm, bởi thậm chí ngay cả sau khi những
nền văn minh cổ đại trên đã bị tiêu mất, chúng vẫn lưu truyền khắp thế giới và
được kế thừa bởi các nền văn minh khác. Ngay cả trong triều đình nhà Thanh của
Trung Quốc, hoàng đế phải mặc triều phục màu lam và đeo chuỗi 108 hạt thanh kim
thạch khi hành lễ tế Thiên triều.
Nhiều người biết rằng thực sự có
rất nhiều khoáng chất màu xanh lam trong giới tự nhiên, không chỉ đơn thuần loại
quặng này. Có thể tùy ý tìm thấy những viên đá xanh có sắc như thiên không. Vậy
tại sao thanh kim thạch lapis lazuli lại được ưu ái như vậy?
Lý do lại liên quan đến các vị Thần
Phật. Dưới đây có thể cung cấp cho bạn một vài ví dụ:
Các vị Thần mặt trăng trong thần
thoại Lưỡng Hà như Akad, Assyria, và Babylon được gọi là “Sin” (hay “Nannar”
trong tiếng Sumer). Theo truyền thuyết, ông có một đặc điểm về ngoại mạo, đó là
ông có một bộ râu bằng thanh kim thạch.
Tình huống này không phải là hiếm,
và cũng có những ghi chép tương tự ở Ai Cập cổ đại. Như đã đề cập trước đó, người
Ai Cập cổ đại công nhận vàng là Thần thể, nhưng họ có nhận thức chi tiết hơn –
đó là tóc của thần được cấu tạo bằng thanh kim thạch.
Ra, vị thần tối cao trong thần
thoại Ai Cập (là Thần mặt trời và Thần sáng tạo của Ai Cập cổ đại) là đại biểu
cho thần thể này. Người Ai Cập cổ đại tin rằng thân thể của Thần có màu vàng
kim, và mái tóc bằng thanh kim thạch thuần tịnh.
3. Vì sao hội họa Đông-Tây đều sử dụng vàng kim và thanh kim thạch để vẽ
tranh Thần Phật?
Trong lịch sử mỹ thuật, người ta
thường sử dụng vàng và đá quý thanh kim thạch làm nguyên liệu vẽ trong các tác
phẩm nghệ thuật tôn giáo. Dân gian cho rằng: đó là để bày tỏ sự kính ngưỡng của
con người đối với Thần Phật… Điều này là sự thật, nhưng thực ra, đằng sau đó
còn ẩn chứa những nội hàm uyên nguyên khác nữa…
Lại nói, đối với khái niệm thân
vàng kim, tóc lam của Thần thể, các bạn có cảm thấy quen thuộc với hình tượng
Phật ở phương Đông không? Bởi vì trong mỹ thuật Phật giáo, hình tượng Phật đại
đa số là như vậy. Mà mỹ thuật trong Phật giáo còn có một nhan liệu khác gọi là
“Phật đầu thanh” (màu xanh đầu Phật), dùng để tạo màu tóc cho các bức tượng Phật.
“Phật đầu thanh” chỉ là tên gọi, mà không hạn định nguyên liệu, vì vậy bột màu
lam đồng khoáng sắc azurite hay bột màu thanh kim thạch lapis lazuli, hoặc thậm
chí là hỗn hợp của cả hai đều được sử dụng.
Sự tương đồng của màu vàng kim và
thanh kim thạch trong văn hóa phương Đông và phương Tây
Lớp sơn ultramarine được sơn trên
thân kim của tượng Phật có độ bão hòa cao hơn và màu đậm hơn một chút, có thể tạo
nên sự tương phản với màu kim. Vào thời cổ đại, để có thể biểu hiện được sắc
lam trên thân kim của Thần, người ta đã chế tạo ra sắc liệu lý tưởng bằng cách
nghiền mài và thuần chế thanh kim thạch. Nhưng vì việc sử dụng đá quý làm nhan
liệu rất đắt tiền, nên nó phổ biến hơn ở các văn vật tượng Phật quy mô vừa và
nhỏ ở những địa khu chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo như Tây Vực. Mà Trung Quốc
từ hàng ngàn năm trước đã có xu hướng sử dụng azurite làm sắc liệu. Tất nhiên,
cũng có nhiều tượng Phật mà tóc không được phủ màu. Nhưng ở Tây Tạng, nhan liệu
làm bằng thanh kim thạch thường được thấy trên các bức thang ka vẽ tay (tranh
cuộn vẽ các vị Phật của Phật giáo Tây Tạng).
Được thờ cúng trong chùa Liên Hoa
Viện ở thành phố Tamana, tỉnh Kumamoto, Nhật Bản, tượng Phật Như Lai Fukongchi,
một trong năm vị Tathagatas của Phật giáo Mật tông, chủ trì thế giới Liên Hoa Bắc
phương. Toàn bộ tượng Phật được phủ sắc vàng kim, nhưng tóc của Phật lại có màu
xanh lam, đây là một đặc điểm chủ yếu của mỹ thuật Phật giáo.
Thực hành chế biến thanh kim thạch
thành bột ultramarine phổ biến hơn trong lịch sử nghệ thuật phương Tây. Tôi đã
nói về truyền thống sử dụng bột màu ultramarine trong hội họa phương Tây để vẽ
áo choàng của Thánh Mẫu Santa Maria trong bài viết “Diễn giải mỹ thuật hai trăm
năm sau thời kỳ Phục hưng”. Màu xanh đắt tiền này được dùng để thể hiện sự linh
thiêng. Tất nhiên, loại nhan liệu này không chỉ giới hạn trong việc vẽ trang phục
của Thánh Mẫu Santa Maria, các bức tranh truyền thống thường sử dụng màu này
cho trang phục của Thượng Đế và Chúa Giê-su.
Trong lịch sử mỹ thuật, người ta
thường sử dụng vàng và đá quý thanh kim thạch làm nguyên liệu trong các tác phẩm
nghệ thuật tôn giáo, dân gian cho rằng đó là để bày tỏ sự kính ngưỡng của con
người đối với Thần nên đã sử dụng những chất liệu cao quý để vẽ nên những tác
phẩm nghệ thuật ngợi ca Thần Phật… Điều đó là sự thật, nhưng đó chỉ là biểu hiện
bên ngoài. Thực tế, những chất này được sử dụng làm nhan liệu để vẽ hình tượng
Thần thánh không chỉ bởi vì sự đắt tiền của chúng, mà là vì bản thân sự cao quý
của nó cũng có nguồn gốc uyên nguyên. Kỳ thực, vạn vật đều có linh, và mọi sự đều
có tồn tại nguyên nhân thâm sâu hơn; bản thân tài liệu này cũng liên quan đến học
vấn cao thâm hơn, chỉ có thể dùng huệ tâm lĩnh ngộ, tùy duyên mà đắc.
Một điều cần nói rõ nữa là thanh
kim thạch không được gọi với tên hiện tại của nó trước triều đại nhà Minh và
nhà Thanh. Vì Trung Quốc đã nhập khẩu loại đá quý này từ các nước khác từ xa
xưa, các vùng khác nhau trải qua các thời đại khác nhau, tên gọi các loại nhân
liệu cũng khác nhau, thậm chí có vẻ rất khó hiểu; ngoài ra, người xưa cũng có
thể nhầm lẫn với các loại khoáng vật màu lam khác khi đặt tên cho chúng, vì vậy
nghiên cứu văn bản trên các tài liệu cổ của Trung Quốc có một số yếu tố không
chắc chắn trong đó. Tuy nhiên, nếu nó có thể được bổ sung bằng các tài liệu tiếng
nước ngoài có liên quan, thì sẽ dễ dàng làm rõ tình huống cụ thể.
Một ví dụ nổi tiếng là Phật Dược
Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, còn được gọi là “Phật Dược Sư”, chủ trì thế giới
Lưu Ly. Mặc dù đều là những danh hiệu quen thuộc nhưng có lẽ nhiều người còn mơ
hồ hơn về khái niệm “Lưu Ly”. Chính xác thì Lưu Ly là như thế nào? Vậy chúng ta
hãy tham khảo ngôn ngữ của các quốc gia khác: “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương”
trong tiếng Anh gọi là “Medicine Master and King of Lapis Lazuli Light”, tiếng
Pháp gọi là “Maître guérisseur de la Lumière de Lapis-lazuli”, và tiếng Ý là”
Maestro della Medicina dalla Luce Lapislazzuli”.
Thế giới của Phật Dược Sư là “Đông phương Tịnh Lưu Ly
thế giới” trong tiếng Anh được gọi là “Eastern pure land of Pure Lapis Lazuli”,
“Terre pure de pur Lapis- lazuli” trong tiếng Pháp, và “Pura terra di puro
Lapislazzuli” trong tiếng Ý. Tất cả những chỗ trong các cụm từ tương ứng với
“Lưu Ly” đều được viết là “Lapis lazuli” (hoặc một biến thể rất nhỏ), có nghĩa
là “thanh kim thạch” trong tiếng Trung Quốc.
Tuy nhiên, “Lưu Ly thế giới” chỉ
là một cách gọi tắt. “Lưu Ly” ở đây không phải là “Lưu Ly” ở phàm trần, mà là
“Tịnh Lưu Ly”, tiếng Anh gọi là “Pure Lapis Lazuli” và tiếng Pháp là “Pur
Lapis-lazuli”… Dịch sang tiếng Trung Quốc hiện đại chính là “Thanh kim thạch
thuần khiết”. Nhưng khoáng thạch tại phàm trần của thanh kim thạch thực ra rất
không tinh khiết, khác xa với trân bảo Phật giáo được ghi chép trong sách cổ,
vì vậy bài viết này không quảng cáo cho thanh kim thạch. Mặc dù thanh kim thạch
là một trong bảy báu vật của Phật giáo và được các thợ kim hoàn coi trọng,
nhưng từ thời cổ đại, tu luyện đều yêu cầu vứt bỏ những chấp trước vật chất; điều
trọng yếu đối với người tu hành là chân chính đề cao tâm tính và phẩm đức cũng
như niềm tin chân chính của con người đối với Thần Phật.
Tóm lại, bài viết này chỉ đơn giản
liệt kê một vài màu sắc truyền thống tiêu biểu, còn rất nhiều màu sắc khác chưa
được đề cập đến. Trên thực tế, tác giả bài viết chủ yếu muốn nói với mọi người
rằng: màu sắc truyền thống của Trung Quốc không phải là màu đỏ tươi mà mọi người
đang lạm dụng quá mức ngày nay.
Qua nghiên cứu lịch sử, chúng tôi
nhận thấy màu sắc truyền thống chân chính có liên quan mật thiết đến Thần, Phật,
Thiên và Địa. Cho dù đó là “Kim thân” (Thân màu vàng kim) được đề cập bởi Phật
gia hay “Tử khí” (khí màu tím) được đề cập bởi Đạo gia, những màu sắc này mang
lại cho mọi người một cảm giác rất chính diện, có cao quý trang nghiêm, có siêu
phàm thoát tục. Ngược lại, phàm tục bị gọi là “hồng trần”, nơi ô tạp hơn nữa bị
gọi là “khu đèn đỏ”… Những từ này được cả thế giới sử dụng, điều đó cho thấy cảm
thụ của con người đối với màu sắc là tương đồng.
Tất nhiên, về chức năng của màu sắc,
các màu khác nhau có công dụng khác nhau. Tác giả không bài xích màu đỏ, bởi vì
màu đỏ cũng có nhiều tầng thứ khác nhau. Kiến nghị ở đây là tránh lạm dụng màu
đỏ một cách cực đoan, cũng không nên sùng bái màu đỏ như hiện nay. Tác giả hy vọng
bài viết này có thể cung cấp một góc nhìn mới cho những người yêu thích và ủng
hộ màu sắc truyền thống, xua tan ‘lớp sương mù đỏ’ trong hoàn cảnh mông muội,
và để mọi người một lần nữa cảm nhận được về thế giới truyền thống đa sắc và mỹ
hảo.
-ST-
