Mấy ngày gần đây trên mạng bàn tán sôi nổi về
thông tin một số chùa kêu gọi Phật tử cúng dường qua ví tiền điện tử, có người
cho rằng đây là những trang Facebook giả danh để lừa tiền, có người cho rằng là
chủ trương của Giáo hội.
Tuy nhiên, như báo Tuổi Trẻ Online đưa tin thì việc
"Cúng dường" bằng ví tiền điện tử này hoàn toàn có thật, và là chủ
trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: "Thượng tọa Thích Đức Thiện giải
thích, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang thử nghiệm cúng dường qua ví điện tử đối
với các chùa: Phúc Khánh (Hà Nội), Yên Tử (Quảng Ninh), Bái Đính (Ninh Bình),
Tam Chúc (Hà Nam), Phật Tích (Bắc Ninh), Đại Tuệ (Nghệ An)" (theo TTO).
Tuy nhiên, như báo Tuổi Trẻ Online đưa tin thì việc
"Cúng dường" bằng ví tiền điện tử này hoàn toàn có thật, và là chủ
trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Để xem cúng dường thế nào mới là đúng, cúng dường
qua ví tiền điện tử đúng hay sai, thì trước tiên cần xem cúng dường là gì, và tại
sao nên cúng dường, và cúng dường như thế nào.
Cúng dường
là gì và cúng dường như thế nào
Cúng dường vốn là thuật ngữ Phật giáo, tiếng Phạn
là Pūjā, hoặc Pūjanā, được dịch qua tiếng Hán là Pháp cúng, cúng dưỡng, cúng phụng,
là chỉ việc dâng cúng đối với Tam Bảo Phật - Pháp - Tăng. Từ "cúng dường"
là âm đọc chệch từ "cúng dưỡng" mà ra.
Cúng dường gồm có các hình thức sau:
1. Lợi cúng dường: là cúng dường
hương, hoa, đèn, nến, trái cây, thức ăn, cờ phướn, áo cà sa, thuốc men và đồ
dùng sinh hoạt để biểu đạt cự kính phụng đối với Tam Bảo.
Thời Đức Phật tại thế, mỗi lần Ngài giảng Pháp đều
có Tiên Nữ tán hoa, nên sau khi Ngài nhập Niết bàn, các đệ tử và tín chúng cũng
thường dâng hoa trước tượng Phật. Thời Đức Phật tại thế và một thời gian dài về
sau, đều không có việc cúng dường tiền tài, Đức Phật yêu cầu đệ tử xuất gia
không được tồn tiền, không tồn vật. Phật giáo Tiểu thừa đến nay vẫn giữ truyền
thống đó, tiền tài cúng dường do các cư sĩ gọi là Tịnh thân quản lý. Phật giáo
Đại thừa bắt đầu vào thời nhà Đường thay đổi giới luật, bắt đầu có hiện tượng
tăng nhân tồn trữ tiền tài.
2. Kính cúng dường: kính lễ đối với
Phật (tượng Phật) và tăng nhân như chắp tay hợp thập kính lễ, khom mình kính lễ,
quỳ kính lễ, dập đầu kính lễ.
3. Hành cúng dường: Thực hành Thập
thiện, Ngũ giới, tuân theo những lời dạy của Đức Phật. Các tín đồ Phật giáo
hàng ngày tụng Kinh niệm Phật, hành thiền, lễ Phật.
4. Pháp cúng lễ: truyền bá diệu
nghĩa của Phật Pháp đến chúng sinh, giúp chúng sinh ly khổ đắc lạc.
Nhiều người đi chùa cầu tiêu tai giải hạn, phát
tài tấn lộc, thăng quan tiến chức... thế nên ngoài những đồ cúng dường đúng
nghĩa ban đầu của "lợi cúng dường" thì ít nhiều đều cúng dường tiền bạc.
Hiện nay rất nhiều người đi chùa với nhiều mục
đích khác nhau, người cầu tiêu tai giải hạn, người cầu phát tài tấn lộc, người
cầu thăng quan tiến chức, người cầu sinh con trai, người cầu sức khỏe, bình
an... thế nên ngoài những đồ cúng dường đúng nghĩa ban đầu của "lợi cúng
dường" thì ít nhiều đều cúng dường tiền bạc. Thế nên mới sinh ra chuyện
cúng dường "ví tiền điện tử", "online" "4.0" ngày
nay. Như vậy việc "cúng dường" tiền tài như ngày nay đã không còn là
"cúng dường" chân chính nữa, không phải kính Phật, mà là "cầu Phật",
không phải để bày tỏ thành tâm kính ngưỡng đối với Tam Bảo, mà là "cầu Tam
Bảo" ban phúc lộc, bảo hộ, phù hộ cho kiếm được nhiều tiền hơn, hết bệnh,
hết nạn, hết khổ. Thế nên khi hiểu sai, làm trái những điều Phật dạy thì không
những không được phúc báo mà có khi còn chịu tội rất lớn.
Cư sĩ nhiều
năm ăn chay niệm Phật, cúng dường, tại sao vẫn đọa địa ngục
Một cư sĩ nhiều năm ăn chay niệm Phật và bố thí,
nhưng đến khi chết không được lên thế giới Cực Lạc mà lại xuống địa ngục.
Người này hỏi Diêm Vương: “Khi còn sống con đã quy
y Tam Bảo, nhiều năm liền ăn chay niệm Phật, cũng thường xuyên bố thí, sao lại
bị xuống đây?”.
Diêm Vương trả lời: “Ngươi tụng kinh là để cầu
phúc báo chứ không phải chân chính tu hành”.
Người này lại hỏi: “Nhưng con cũng thường xuyên bố
thí”.
Diêm Vương trả lời: “Ngươi bố thí là để cầu được
tích đức chứ không phải vì lòng thương xót chúng sinh, phúc báo của sự bố thí
đó cũng đã dùng hết rồi”.
Người này lại hỏi: “Con đã quy y Tam Bảo rồi”.
Diêm Vương trả lời: “Ngươi quy y Tam Bảo, nhưng lại
không thật tâm tu hành, trong lòng vẫn chất chứa đầy tính toán tranh giành được
mất với người ta, vì vậy nhân quả và nghiệp chướng cũng như người thường mà
thôi”.
Một cư sĩ nhiều năm ăn chay niệm Phật và bố thí,
nhưng đến khi chết không được lên thế giới Cực Lạc mà lại xuống địa ngục.
Người này lại hỏi: “Con ăn chay trường và không
sát sinh”.
Diêm Vương trả lời: “Ngươi ăn chay, miệng nói Phật
nhưng lòng dạ nhỏ nhen, hay mắng mỏ nhục mạ và nói xấu người khác, khẩu nghiệp
chất chồng như núi”.
Người này lại hỏi: “Con thường hoằng dương Phật
Pháp”.
Diêm Vương trả lời: “Ngươi thường xuyên tới đạo
tràng giảng Pháp, nhưng thực chất là giảng loạn kinh Phật, thêm thắt suy diễn của
mình, làm loạn Pháp hoại Pháp, chứ không phải lấy những lời nguyên gốc của Phật
mà truyền bá, tội làm loạn Pháp này còn nghiêm trọng hơn những tội trên nhiều”.
Người xuất gia, là đi theo con đường của Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, Ngài vốn là Thái tử Tất Đạt Đa, vì thấy chúng sinh đều khổ, kiếp
người vô thường ngắn ngủi nên quyết định từ bỏ cung điện, từ ngôi báu và từ bỏ
cả vợ đẹp con khôn cùng vàng bạc châu báu ra đi tìm con đường tu luyện. Sau khi
đắc Đạo, Ngài truyền Pháp và đích thân dạy mọi người xuất gia, từ bỏ hết thảy
danh lợi tình, chỉ mang theo bình bát và vài bộ cà sa, ngày ngày khất thực, tọa
thiền, đôi khi nghe Ngài giảng Pháp. Người xuất gia mà vẫn để tâm vào những việc
tiền bạc, dùng dưới danh nghĩa xây chùa, đúc tượng, ấn tống kinh sách thì cũng
là những việc hữu vi, là trái với lời dạy của Đức Phật, và nguy hiểm hơn là những
quả báo đang chờ họ sau khi hết dương thọ.
Lợi dụng Phật
Pháp kiếm tiền bất chính bị ác báo
Nước Bắc Tề thời Nam Bắc triều có một nhà sư tên
là Yến Thông, dù đã xuất gia nhưng lại không chân chính tu hành, tìm mọi cách để
tích cóp tài sản, đặc biệt là lợi dụng tín ngưỡng của mọi người đối với Thần Phật
để phát tài.
Sư Yến Thông đi khắp nơi khuyên bảo mọi người
quyên tiền, cúng dường đúc tượng Phật, rằng cúng dường càng nhiều tiền thì tích
được công đức càng lớn. Những người tín Thần kính Phật thấy vậy đều tấp nập đến
chùa cúng dường. Đến khi tiền tích cóp được nhiều rồi, sư lấy ra một phần để
đúc bức tượng Phật lớn bằng đồng.
Đến khi tiền tích cóp được nhiều rồi, sư Yến Thông
lấy ra một phần để đúc bức tượng Phật lớn bằng đồng.
Sư lại khuyến khích mọi người đến thắp hương bái
Phật, cúng dường bằng tiền tài, và nói rằng đây là tích công đức cho bản thân,
nhiều Phật tử nhịn ăn bớt tiều để dàng tiền cúng dường, bái Phật.
Gặp những người gặp tai họa, bệnh tật ốm đau, làm
ăn thất bại, muộn mằn con cái, tình duyên trắc trở... thì sư Yến Thông đều nói
cúng dường tiền tài để sư tụng kinh cầu nguyện giúp họ, để được Thần Phật phù hộ,
muốn gì được nấy. Tuy nhiên sư lấy toàn bộ số tiền làm của riêng, coi đó là
công sức của sư, nên sư không chỉ tiêu xài phung phí ra, mà còn nhiều lần gửi
tiền về cho gia đình.
Dần dà, mọi người cũng biết chuyện, người đến cúng
dường tiền bạc càng ngày càng ít. Đến khi không có ai đến chùa lễ bái nữa thì
sư Yến Thông, rất tức giận, một lần không nén nổi cơn giận dữ đang sục sôi, sư
giơ cây gậy lên đánh tượng Phật, và buông lời oán hận nguyền rủa, rằng vì sao
tượng Phật không còn mang đến tiền tài cho ông như trước nữa.
Đúng lúc cây gậy sắp giáng xuống thì một vị Thần mặc
áo giáp hiện ra sừng sững trước mặt Yến Thông. Thần cao hai trượng, mũ vàng áo
bạc lấp lánh ánh quang, trên tay cầm cây giáo dài, giận dữ nhìn Yến Thông mà lớn
tiếng mắng rằng: “Kẻ bại hoại nhà ngươi, sao dám khinh nhờn tượng Phật?”
Vừa dứt lời, vị Thần liền nhấc Yến Thông lên, lấy
cây thiết trượng đánh xuống tới tấp, khiến ông ta thương tích đầy mình, máu
không ngừng chảy. Yến Thông cầu khẩn vị Thần tha tội, tiếng kêu thét lớn đến mức
trong ngoài đều nghe thấy được. Mọi người vội vàng chạy đến, chỉ thấy sư thâm
tím mình mẩy đau đớn nằm đó.
Đến khi không có ai đến chùa lễ bái nữa thì sư Yến
Thông, rất tức giận, một lần không nén nổi cơn giận dữ đang sục sôi, sư giơ cây
gậy lên đánh tượng Phật, và buông lời oán hận nguyền rủa.
Nhiều ngày sau đó, vết thương trên người sư Yến Thông
không những không lành lại, mà còn lở loét ngày càng lớn, máu chảy đầm đìa, khắp
mình sưng đỏ, giống như bị lửa đốt vậy. Sư kêu rên ngày đêm, máu vẫn không ngừng
chảy, sau trăm ngày chịu đủ mọi thống khổ rồi mới qua đời. Có người khai thiên
nhãn thấy sư Yến Thông bị chịu hình phạt dưới địa ngục.
***
Hòa thượng, tăng nhân, sư là những người xuất gia
theo Phật, tức là đệ tử của Phật. Còn cư sĩ là không xuất gia nhưng vẫn tu tập
theo giới luật và Pháp tu mà Phật truyền dạy. Phật tử là tín chúng có thiện tâm
hướng Phật, hướng thiện. Đối với mỗi loại đệ tử, tín chúng Đức Phật Thích Ca đã
đặt ra giới luật riêng, có yêu cầu nghiêm khắc. Trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật
có căn dặn các đệ tử và tín chúng là "Dĩ giới vi sư" (Lấy giới luật
làm thầy), cần nghiêm túc tuân thủ giới luật, trì giới mới đạt tiêu chuẩn của
người đệ tử của Phật. Người tu Phật, hướng Phật trong tâm có Phật, trong đời sống
hàng ngày chú ý tu thân khẩu ý, giữ giới và tuân theo lời Đức Phật dạy, thì được
Phật bảo hộ gia trì, để họ sớm trả hết nợ nghiệp qua bao đời bao kiếp tích tụ,
để sớm ngày thoát vòng sinh tử, hưởng phúc thực sự ở Tịnh thổ Phật quốc.
Còn xây chùa dựng tượng, tụng kinh lễ chùa cũng chỉ
là hình thức. Việc cúng dường cũng là để biểu hiện cái tâm thành kính với Tam Bảo,
và để những người xuất gia có thể duy trì được cuộc sống đơn giản, chuyên tâm
vào tu tâm dưỡng tính, thực hành Phật Pháp, có thể khai huệ khai ngộ lợi lạc
chúng sinh. Người xuất gia mà còn để tâm vào thế gian tục sự, vẫn say mê với tiền
tài và danh vọng, thì đó không phải đệ tử chân chính của Phật, sẽ chẳng có vị
Phật nào chấp nhận người đệ tử luôn làm trái lời dạy của Ngài.
Tín chúng, Phật tử có tâm kính ngưỡng Phật, tôn
kính Tam Bảo, cúng dường đúng cho những người chân tu, giữ giới, khổ tu, hành Đạo,
thì mới có công đức chân chính. Ngược lại, nếu lầm tưởng "cúng dường"
tiền bạc cho chùa, mà số tiền bạc đó lại để những người giả tu tiêu dùng hưởng
thụ cá nhân, gửi cho gia đình, kinh doanh, xây chùa giả để mưu cầu tiền
"công đức" của tín chúng, thì không những không có công đức mà còn tạo
nghiệp, vì số tiền gọi là "cúng dường" đó bị dùng sai mục đích, cũng
khiến một số tăng nhân vì thế mà hưởng lạc, sa ngã.
Trong Phật giáo cũng có câu rằng "Phật vô xứ
bất tại", Phật không nơi nào là không có.
Đức Phật Thích Ca cũng nói "Phật Như Lai nhiều như số cát sông Hằng".
Thế nên, chỉ cần trong tâm có Phật, ghi nhớ và làm theo lời Phật thì Phật đều
biết, đều ghi nhận và gia trì, chứ đâu cần xem những việc hữu vi thắp hương bái
lạy hình thức.
Theo
Trung dung
