Đức Phật Thích Ca cho biết trong thế giới mười phương đều có vô số các
Đức Phật. Và Ngài giới thiệu cho chúng ta hai vị Phật đặc biệt có duyên với
chúng sinh ở Ta bà. Đó là Đức Phật Di Đà ở thế giới phương Tây và Đức Phật Dược
Sư ở thế giới phương Đông.
Hai vị Phật Di Đà và Dược Sư cũng phát xuất từ con người như chúng ta,
cũng bị vô minh ngăn che, phiền não quấy rầy. Nhưng các Ngài khác chúng ta ở điểm
đã chuyển hóa những hiểu biết sai lầm của con người thành hiểu biết đúng đắn
hoàn toàn và chuyển đổi những việc làm xấu trở thành công đức, cũng như đã phát
huy được ba nghiệp thân khẩu ý đến mức
thanh tịnh hoàn toàn, sáng suốt trọn vẹn và thành tựu nhiều việc làm lợi ích
cho cuộc đời. Những thành quả tuyệt vời như thế trên bước đường hành Bồ tát đạo
mới tạo thành quả vị Phật của Đức Di Đà và Đức Dược Sư.
Phật Thích Ca đến thành Quảng Nghiêm, nói kinh Dược Sư dưới cây Tiếng
Nhạc là cây Thông. Phật thuyết pháp trong rừng thông, gió lay động làm tiếng
thông reo, người có tâm thanh tịnh cảm nhận như là tiếng nhạc Trời.
Thành Quảng Nghiêm là tên khác của thành Tỳ Da Ly, nơi Phật đã thuyết
kinh Duy Ma. Đây là thành phố tương đối văn minh, sạch đẹp, con người và thiên
nhiên sống hài hòa với nhau. Đức Phật đưa đại chúng đến thành phố an vui, để
nói việc vui; Phật thuyết pháp tùy duyên là như thế.
Đến thành Quảng Nghiêm, một cảnh vui tươi, an lạc, khác với cảnh chết
người của thành Vương Xá, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Phật về Tịnh độ của các Đức
Phật; nói cách khác, ngoài thành này còn có thành nào tốt đẹp hơn nữa hay
không.
Đức Phật trả lời rằng từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức
cõi nước chư Phật, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Giáo chủ cõi này là Phật
Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Khi còn tu hạnh Bồ tát, Ngài có mười hai lời
nguyện, để cứu giúp mọi người có được cuộc
sống vật chất và tinh thần tốt đẹp nhất.
Đức Phật đã giới thiệu thế giới Tịnh Lưu Ly cách chúng ta rất xa, xa đến
mười muôn ức thế giới và cũng đẹp như thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà. Tuy
nhiên, hai thế giới này có hai mô hình khác nhau, có cách trang nghiêm khác
nhau; vì môi vị Phật có tâm nguyện, hạnh nguyện khác nhau, tức nhân địa tu hành
Bồ tát đạo của hai vị này khác nhau. Tuy nhiên, dù khác thế nào chăng nữa, thế
giới của các Đức Phật cũng đều hoàn toàn tốt đẹp.
Đức Phật Dược Sư xây dựng thế giới Tịnh Lưu Ly trên căn bản của 12 lời
nguyện, trong đó cũng có những nguyện giống với 48 nguyện của Đức Phật Di Đà.
12 lời nguyện này để ứng vào hoàn cảnh xã hội và yêu cầu của mọi người ở Ta bà.
Chúng ta còn nhớ Đức Phật Thích Ca xưa kia phát Bồ đề tâm hành Bồ tát đạo, tình
thương của Bồ tát rất lớn và đối tượng của tình thương đó là chúng sinh đau khổ
vô cùng. Thấy chúng sinh khổ thì thương, nhưng khả năng còn giới hạn, làm sao cứu
được. Đức Phật Thích Ca cũng nguyện thành Vô thượng Đẳng giác, nghĩa là có đầy
đủ khả năng cứu giúp, mới trở lại độ chúng sinh. Phật Dược Sư cũng phát nguyện
như vậy và 12 lời nguyện của Ngài rất thực trong cuộc sống.
Nguyện thứ nhất, Đức Dược Sư phát nguyện chứng được Vô thượng Bồ đề là
đạt được trí tuệ tột đỉnh để giúp cho mọi người hết khổ, được an vui và họ biết
phục vụ lại người khác. Vì Ngài biết rõ tất cả chúng ta đều có khả năng mang an
vui, hạnh phúc cho mình, cho người; nhưng vì thiếu trí tuệ, bị vô minh ngăn
che, nên không thể giải thoát, không làm được việc lợi ích cho đời.
Thời Phật Dược Sư xa xưa vậy mà Ngài đã biết được lợi ích vô cùng của
trí tuệ. Ngày nay chúng ta dễ dàng nhận thấy sức mạnh của con người không bằng
con hổ, con voi, nhưng khống chế được chúng nhờ trí tuệ.
Và thời hiện đại là thời văn minh khoa học, cũng do trí tuệ loài người
được phát huy cao, nên tạo ra được những tiện nghi tốt đẹp cho cuộc sống của
con người. Nhưng loài người phát huy trí tuệ mà không có tình thương chỉ đạo,
không hướng đến việc phục vụ con người một cách tốt đẹp, mà lại gây ra đau khổ
rất nhiều cho chính con người và cho muôn loài. Thí dụ con người tìm ra nguyên
tử năng là sức mạnh lớn nhất, nhưng không sử dụng để phục vụ hoàn toàn cho con
người; trái lại, dùng nó để giết người. Điển hình là hàng triệu người chết vì
bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản. Hoặc trong chiến
tranh Việt Nam, người Mỹ cũng sử dụng vũ khí hiện đại là chất độc da cam, khiến
cho chiến tranh chấm dứt đã 30 năm mà vẫn còn để lại hậu quả thật là thảm khốc
cho nhiều người.
Trí tuệ con người phải kèm theo lòng từ bi mới có thể phục vụ lợi ích
cho nhân loại. Xây dựng thế giới Tịnh Lưu Ly, Đức Phật Dược Sư phát nguyện phát
huy hiểu biết cao nhất để phục vụ cho người dân ở đó được hưởng cuộc sống sung
sướng nhất. Thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà cũng vậy. Đó là hai mô hình thế
giới văn minh của Phật chỉ có tình thương và xây dựng hạnh phúc tối đa cho người
dân; ở Tịnh độ đó không có ác độc, nguy hiểm, giết người, đói khát, bệnh tật,
đau khổ… như thế giới văn minh của loài
người ngày nay thường hủy diệt mạng sống của con người và các loài hữu tình
khác, cũng như gây ra vô số bệnh tật quái ác, tạo ra những rủi ro vô cùng, hiểm
nguy vô tận.
Bồ tát muốn cứu chúng sinh, phải có trí tuệ cao nhất để khai thác tài
nguyên trong không gian, trong lòng đất nhằm phục vụ con người mà không gây thiệt
hại cho các loài, cho sự sống của trái đất. Và Đức Phật Dược Sư đã đạt được mục
tiêu đó. Ngài chuyển những khó khăn thành tiện nghi tốt nhất của thế giới thuần
tịnh, cũng đẹp nhất và an vui nhất như Cực Lạc vậy.
Tụng kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, nghĩ đến lời nguyện thứ nhất của
Đức Dược Sư, chúng ta nỗ lực nâng hiểu biết của mình lên đến tầm cao. Giả sử
chúng ta sinh về đó, cũng để học hỏi, thực hành và xây dựng được thế giới văn
minh như Đức Phật Dược Sư; không phải để hưởng thụ. Thật vậy, Tịnh độ của Đức
Phật Dược Sư có những vị Bồ tát như Nhựt Quang, Nguyệt Quang, Dược Vương, Dược
Thượng, Bảo Đàn Hoa… và nhiều vị Bồ tát lớn. Các Ngài là những bậc Thầy có trí
tuệ tuyệt vời để chúng ta theo học, chắc chắn việc kiến tạo những Tịnh độ không
phải là việc làm ngoài tầm tay của chúng ta.
Nguyện thứ hai của Đức Phật Dược Sư là có được thân như ngọc lưu ly,
trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, hào quang chiếu mười phương khiến
cho chúng hữu tình trông thấy là được an lành. Người Ta bà phát triển trí tuệ,
nhưng thân tâm ác độc, ô uế, nên đã tạo ra khổ đau cho nhau. Thực tế cho thấy
con người càng khôn thì càng làm khổ nhiều người. Ngày xưa, con người đánh nhau
bằng tay, sau đánh bằng đá, cho đến bằng gươm giáo và tiến đến súng đạn, vũ khí
tàn phá giết người hàng loạt. Văn minh kèm theo tâm tham vọng và sự ác độc đã
gây tác hại vô cùng cho chính con người và cho mọi loài.
Nguyện thứ hai của Đức Phật Dược Sư rất hay, nên Thầy cũng phát nguyện
tu theo. Thân tâm của Đức Phật Dược Sư tinh sạch hoàn toàn, đọc đến đây, tự xét
thân và tâm chúng ta có tỳ vết hay không, để chúng ta bắt đầu điều chỉnh, sửa lần.
Tâm trong sạch là không phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Còn ba thứ
này là có tỳ vết. Và tất nhiên người thấy tỳ vết của ta, họ sẽ chỉ trích. Tu
hành, chấp nhận sự phê phán của người, không buồn giận; nhưng cám ơn họ, vì ta
không thể thấy lỗi của mình. Họ không thích, không kính, vì ta có lời nói không
êm tai, mát lòng tiêu biểu cho khẩu nghiệp. Từ khẩu nghiệp, mới tạo thành ngôn
ngữ mà người không chấp nhận. Còn thân nghiệp vì mình đã tạo nhiều tội, nên
thân hôi dơ, xấu xí, bệnh hoạn.
Vì thế, tu hành, chúng ta chuyển đổi nghiệp thân thành thân công đức,
bằng cách dùng thân này phục vụ chúng sinh hay xã hội. Thầy thấy nhiều người có
ngoại hình không đẹp, nhưng họ biết tu, lo phục vụ người khác; đó là dùng công
đức trang nghiêm thân, nên họ cũng được nhiều người quý mến. Thầy có kinh nghiệm
pháp tu này. Lúc còn là học Tăng, Thầy lo quét dọn sạch sẽ nhà vệ sinh của đại
chúng. Chắc chắn đại chúng không cần mình đẹp, chỉ cần nhà vệ sinh sạch đẹp. Thầy
đã nhiệt tình và vui vẻ làm công việc này, mọi người đều thọ ơn, nên họ thương
quý Thầy. Do làm công việc tốt mà nhận được cảm tình của người khác là dùng
công đức trang nghiêm. Người nghĩ đến ta, hay nhìn thấy ta là thấy việc tốt của
ta. Chúng ta tu hành không có gì trang nghiêm, làm sao người thương. Phải dùng
công đức trang nghiêm như Đức Phật Dược Sư. Về thân bên ngoài, dễ thấy nhất,
nên lo phục vụ, không gây phiền hà thì người ta sẽ nghĩ mình tốt, biết lo cho mọi
người.
Đọc kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, chúng ta phải sửa đổi thân cho
trong sạch và nhờ người phát hiện chỉ giùm. Khi có được thân tốt rồi, nghĩa là
không ai chê trách. Chúng ta không làm gì lợi ích cho người, nhưng cũng không
làm phiền ai; đó là giai đoạn tu Tiểu thừa. Nhưng sang bước thứ hai, tu Đại thừa,
phải dùng công đức trang nghiêm, tức làm việc tốt để trang nghiêm thân. Tinh thần
này của Bồ tát được Tổ sư dạy trong bài sám Quy mạng rằng "Kỳ hữu kiến ngã
tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ đề tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ …”,
nghĩa là ta thành tựu được nhiều việc tốt lành đến mức người trông thấy, hoặc
chỉ nghe đến tên, họ cũng phát tâm Bồ đề, mãi mãi thoát khỏi khổ đau của kiếp sống
luân hồi.
Chúng ta theo Đức Phật Dược Sư phát nguyện tu hành, chuyển hóa thân
mình cho trong sạch, dùng giới đức trang nghiêm thân, người ngoài không chỉ
trích được. Ngoài ra, làm nhiều việc lợi ích cho đời, khiến người phát tâm là
đã thể hiện phần nào ý nghĩa của Đức Dược Sư nguyện "Chúng hữu tình ở nơi
tăm tối cũng thấy thân ta và được an lành”.
Song song với thân trong sạch, sâu kín trong tâm chúng ta, cũng nhận
chân được tâm duyên khởi lên vọng tưởng điên đảo, hay tâm lắng yên. Phải giữ
cho tâm trí lắng yên. Chúng ta tụng kinh, lễ Phật, kinh hành, ăn uống… nói
chung, mọi sinh hoạt đều phải ở trong trạng thái tĩnh thức, tâm trí lắng yên.
Nếu biết tu, sống theo lời Phật dạy, lần lần cũng được giải thoát. Kinh
Pháp Hoa nhắc rằng gả cùng tử nghèo khổ vào chùa ở, chỉ quét lá cũng có cơm ăn,
chỗ ở, áo mặc. Nhưng nếu biết tiết giảm sự tiêu xài, có được thặng dư, vẫn giúp
người khác được.
Nếu biết tu, sống theo lời Phật dạy, lần lần cũng được giải thoát.
Kinh Pháp Hoa nhắc rằng gả cùng tử nghèo khổ vào chùa ở, chỉ quét lá cũng có
cơm ăn, chỗ ở, áo mặc. Nhưng nếu biết tiết giảm sự tiêu xài, có được thặng dư,
vẫn giúp người khác được.
Thí dụ, ăn thì lo ăn, không nghĩ ngon dở; vì tâm lắng yên, không phân
biệt thức ăn. Chỉ cần ăn để sống, là ăn trong tĩnh thức, tâm không phân biệt là
không vọng niệm, nên thức ăn ngon dở cũng vậy. Còn khởi tâm thức ăn dở thì nuốt
không vô.
Tụng kinh cũng vậy, tập trung tâm trí, theo dõi lời Phật dạy, suy nghĩ
về những lời nguyện của Đức Dược Sư như thế nào mà Ngài thành Phật. Đức Phật
Thích Ca nói về việc làm của Đức Phật Dược Sư để nhắc nhở chúng ta làm theo
Ngài. Nói cách khác, Đức Phật đưa ra mẫu người tiêu biểu là Đức Phật Dược Sư nhằm
dạy chúng ta hành Bồ tát đạo, để tự trang nghiêm mình, trong tương lai chúng ta
cũng đạt được quả vị như Đức Phật Dược Sư.
Nguyện thứ ba của Đức Phật Dược Sư là sử dụng được phương tiện; vì
thông minh và đạo đức, nhưng không có phương tiện, không làm được. Thí dụ, phải
có bình lọc nước là phương tiện để lọc nước cho sạch; cũng vậy, tâm người dơ bẩn
thì phải có pháp để thanh lọc tâm cho trong sạch.
Vì thế, Đức Phật Thích Ca khẳng định rằng vì chúng sinh nhiều nghiệp
chướng, nên Ngài đưa ra nhiều pháp môn là những phương tiện tu để hóa giải. Điển
hình như trước kia Đức Phật không theo pháp tu khổ hạnh nữa, khiến năm anh em
Kiều Trần Như nghĩ xấu về Ngài. Đến khi Đức Phật thành đạo, Ngài trở lại giáo
hóa năm vị này. Họ nhận thấy Phật thân tâm thanh tịnh, nên tôn kính, mới độ được
họ. Đức Phật tìm được phương pháp tu để hóa giải những suy nghĩ cố chấp của họ,
giúp họ đắc được quả vị La hán.
Ngày nay, hành đạo Bồ tát ở Ta bà, đối tượng của chúng ta là chúng
sinh, chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não. Niệm Phật Dược Sư, nhớ nghĩ đến
lời nguyện thứ ba của Ngài, chúng ta cũng cố gắng tìm cách tốt nhất để hóa giải
chúng sinh, chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não. Nếu chưa hóa giải được ba
thứ này trở nên tốt đẹp, chúng ta cũng không cho chúng tác hại tâm mình.
Nguyện thứ tư, nếu có người theo tà đạo, Đức Dược Sư khiến họ trở về
chánh đạo. Nếu theo nhị thừa, Ngài khiến họ cầu Vô thượng giác. Phải có khả
năng, uy tín, đạo lực, mới chuyển đổi được người khác đi theo con đường chân
chánh. Không đủ uy tín, đạo lực mà nói là bị họ giết, như ở Ấn Độ có 93 tôn
giáo, trong đó có nhiều người rất ác; nói khác là họ giết liền.
Xưa kia, Đức Phật Thích Ca cảm hóa được hàng tà đạo, người mê tín, vì
Ngài có đủ ba nguyện đầu tiên giống như Đức Phật Dược Sư. Ngày nay, cũng có tà
đạo rất nhiều. Tà đạo làm sai trái và dọa nạt người. Đức Dược Sư nhận thấy rõ
khi tu Bồ tát đạo, nói họ không nghe, còn bị giết. Vì thế, Ngài nguyện rằng sau
khi thành Phật, Ngài sẽ giáo hóa những người xấu ác này. Với người theo tà đạo,
Ngài khiến họ trở về chánh đạo. Người tu nhị thừa, hay Thanh văn thì chỉ nhận,
không cho, khất thực xong rồi tu cho riêng họ. Duyên giác thì lo phát huy hiểu
biết của tự thân. Sống trong xã hội, nếu mọi người chỉ lo riêng bản thân mình, dễ
tạo ra sự tranh chấp. Thấy như vậy, Đức Phật Dược Sư nguyện chuyển tâm ích kỷ của
người thành tâm vị tha, tức cầu Vô thượng giác. Phát Bồ đề tâm, thấy được lợi
ích vô cùng của sinh hoạt toàn diện hài hòa là vô ngã vị tha và phát huy mọi việc
làm theo hướng kết hợp tất cả cùng thăng hoa. Tuy nhiên, muốn làm được việc
chung như thế, bản thân ta phải làm trước, phải có nhận thức đúng đắn nhất, đời
sống cao thượng nhất và đầy đủ phương tiện nhất, thì người mới theo. Nói cách
khác, phải thành tựu ba điều đầu tiên như Đức Dược Sư là trí tuệ tuyệt đỉnh,
thân như ngọc lưu ly và đủ phương tiện trí, mới làm được việc thứ tư là chuyển
hóa được ngoại đạo và nhị thừa.
Tụng kinh Dược Sư, nghĩ đến nguyện thứ tư của Ngài, chúng ta từ bỏ tâm
ích kỷ để cùng sống hài hòa với đại chúng, phát huy tâm vô ngã vị tha trên bước
đường tiến đến Vô thượng Bồ đề.
Nguyện thứ năm, với người tu nhị thừa, đức Dược Sư khiến họ phát tâm Bồ
đề và phát tâm rồi, Ngài khiến họ có được tam tụ tịnh giới.
Chưa thành Phật, chúng ta có lúc tốt, lúc xấu. Nhưng không tốt là hủy
phạm thì đọa vào ba đường ác. Thí dụ người cúng dường, bố thí một khoảng thời
gian lại khởi ác tâm, tức tâm đã thay đổi. Nhẹ nhất là thoái Bồ đề tâm, từ bỏ
tâm vị tha, theo cách sống vị kỷ; nhưng hậu quả tệ hơn nữa là thân bệnh hoạn,
tâm buồn phiền, hoàn cảnh sống khó khăn thêm.
Khi thoái tâm, phạm sai lầm như vậy, đáng lẽ bị đọa ác đạo; nhưng ta
nhớ đến Đức Phật Dược Sư có trí tuệ tuyệt vời và công đức lực giáo hóa vô cùng,
thì tiến tu trở lại được và thân tâm ta cũng được thanh tịnh.
Nguyện thứ sáu, Đức Phật Dược Sư thấy trên cuộc đời này có nhiều người
thân hình xấu xí, bị người khinh chê, ruồng bỏ, vì tai điếc, mắt mù, nói năng
ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng. Những người này đau khổ,
họ càng ác nữa, thì sẽ bị đọa. Đức Phật Dược Sư nghĩ cứu họ, vì Ngài có trí
phương tiện, là có cách giải quyết cho họ thoát khổ.
Nhắc đến nguyện này của Đức Dược Sư, chúng ta nhớ lại Đức Phật Thích
Ca khen ngợi việc làm lợi ích của các Bồ tát. Lúc ấy các vị Tỳ kheo mới nói với
Phật rằng họ đã xuất gia, không còn tài sản thì phát tâm Bồ đề làm được gì. Phật
trả lời chỉ sợ tâm hạ liệt của các ông thôi, nếu có tâm cứu giúp vẫn làm được.
Tìm đối tượng thấp hơn để dạy dỗ, họ vẫn nghe. Thí dụ ở thành phố không bằng
ai, nhưng các Thầy cô trẻ về vùng sâu, vùng dân tộc, chắc chắn giảng được. Mỗi
người đều có ưu điểm riêng và vận dụng ưu điểm đó thì ai cũng làm được. Phật dạy
các vị Tỳ kheo khất thực có nhiều thức ăn, có thể chia sẻ cho người khác, hay
cho chim ăn vài hột cơm vẫn được.
Đức Phật Dược Sư có trí phương tiện để giúp đỡ, chuyển đổi cuộc sống của
người ăn hại trở thành người hướng đến Vô thượng Bồ đề, là người tốt. Nếu biết
tu, sống theo lời Phật dạy, lần lần cũng được giải thoát. Kinh Pháp Hoa nhắc rằng
gả cùng tử nghèo khổ vào chùa ở, chỉ quét lá cũng có cơm ăn, chỗ ở, áo mặc.
Nhưng nếu biết tiết giảm sự tiêu xài, có được thặng dư, vẫn giúp người khác được.
Niệm Phật Dược Sư, chúng ta noi theo gương tốt của Ngài, giúp đỡ những
người kém may mắn hơn ta. Tùy phước báo, uy tín, khả năng của mỗi người chúng
ta mà đóng góp cho những mảnh đời bất hạnh có được nụ cười hạnh phúc, chắc hẳn
Phật Dược Sư cũng đưa tay dẫn chúng ta tiến thêm trên con đường tốt lành này.
Nguyện thứ bảy, với những người bị bệnh hiểm nguy, lại nghèo khổ, không
nhờ vả ai được, vì mọi người đều xa lánh họ. Phật Dược Sư tìm cách cứu giúp họ
thoát khỏi bệnh, thân tâm được thanh tịnh, được mọi người thương yêu gần gũi.
Đức Phật Dược Sư nhận thấy rõ con người gặp nhiều khó khăn vì thiếu thốn
vật chất, sức khỏe, tiền của, trí tuệ, mà lại có dư những bệnh tật, nghèo khổ,
ngu dốt, tai nạn; nói chung có đủ những thứ xấu ác, nên người ta dễ dàng tạo ra
nhiều tội lỗi, hoặc khó tiến tu Bồ tát đạo.
Ngày nay, lời nguyện này của Đức Phật Dược Sư được thể hiện qua hình ảnh
từ bi của các nhà sư Thái Lan dấn thân vào hoạt động cứu giúp những người mắc bệnh
Aids. Tại những trung tâm do các nhà sư xây dựng và điều hành, tình thương vô
ngã vị tha của người đệ tử Phật đã ban phát cho những người mắc căn bệnh quái
ác của thế kỷ, mà ít ai dám gần gũi. Các sư đã hướng dẫn bệnh nhân áp dụng pháp
Phật, để cắt được cơn đau hành hạ thân xác, giải tỏa được tâm khổ đau vì bệnh
nghiệp và chuẩn bị tinh thần cho họ xả thân được nhẹ nhàng khi rời bỏ kiếp người
tạm bợ này đến một thế giới an lành.
Nguyện thứ tám, với người mang thân phụ nữ chịu nhiều đau khổ, Phật Dược
Sư cũng có cách hướng dẫn họ tu hành, chuyển thành thân nam, bằng cách chuyển đổi
tâm người nữ và chuyển nghiệp của người nữ.
Tâm người nữ là tâm yếu đuối, cần người chăm sóc. Nay nương theo Đức
Phật Dược Sư, tự phấn đấu đi lên. Sinh hoạt thực tế cho thấy cũng có những phụ
nữ làm được nhiều việc quan trọng hơn nam giới. Vì vậy, người nữ cần thay đổi
tánh yếu hèn và nỗ lực vươn lên để tạo nam tính. Chuyển nữ thành nam bằng cách
phát huy trí tuệ, thấp nhất cũng có việc làm, cao hơn là giữ vị trí lãnh đạo
cao cấp trong xã hội như làm Tổng Thống, Bộ trưởng, Chủ tịch, v.v… , tức thể hiện
được trí tuệ và phước báo hơn người. Tuy mang thân phụ nữ, nhưng ý chí như đàn
ông, là đã tạo được những yếu tố cần có của nam giới.
Trước khi tu, nghĩ rằng cần lập gia đình để sống, cần có người bạn đời
để nương tựa, cần có những tình cảm ủy mị. Nhưng tu theo Phật Dược Sư, người phụ
nữ phát tâm làm việc từ thiện, giúp đỡ người khác, biết tự sống độc lập, tự tạo
sự nghiệp bằng chính đôi tay và khối óc của mình, biết tự tạo cho mình niềm vui
trong cuộc sống, biết vui với cái vui của người khác, v.v…
Nguyện thứ chín, nếu có người sa vào lưới ma, bị tà giáo ràng buộc,Đức
Phật Dược Sư hóa giải cho họ không còn sợ kẻ tà. Làm được như vậy, vì Đức Dược
Sư có uy lực lớn hơn kẻ tà, thì họ mới sợ và Ngài mới khuyên được họ từ bỏ con
đường tà. Ngài chuyển tâm họ hướng đến Vô thượng Chánh đẳng giác, nhờ sống
trong chánh pháp, nên kẻ tà ác không hại được, gọi là tà bất cảm chánh.
Nguyện thứ mười, với những người phạm phải sai lầm, bị giam cầm, Đức
Phật Dược Sư có nguyện lớn cứu những người vô minh này bằng cách đưa họ về thế
giới Tịnh Lưu Ly. Nếu họ ở Ta bà, sẽ bị ba loại ma bao vây, không thoát được,
nhất là ngũ ấm ma, tức nghiệp bên trong và thiên ma bên ngoài gây khó khăn, khó
thoát khỏi.
Được về thế giới Tịnh Lưu Ly tu, dù làm công hèn hạ cũng không bị nợ
đòi. Trước nhất, ở thế giới của Ngài, tâm được yên thì mới tháo gỡ được vô
minh; còn ở đây, vô minh này lại sinh ra sai lầm khác. Xây dựng thế giới Tịnh
Lưu Ly và Ngài giáo dưỡng cho người ở đó trở thành người tốt, giỏi, đạo đức,
sau đó cho họ trở về Ta bà để trả nợ.
Tụng kinh Dược Sư, chúng ta cũng theo hạnh của Ngài, trong phạm vi
chuyên môn, hướng dẫn người sống và làm việc theo hướng tốt đẹp để không phạm kỷ
luật, làm được việc và có cuộc sống bình an.
Để chuẩn bị hành trang về thế giới Tịnh Lưu Ly của Đức Phật Dược Sư,
thiết nghĩ chúng ta tụng kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, nghĩ đến đức hạnh của
Ngài, nghĩ đến thế giới thuần tịnh của Ngài, chắc chắn phải nỗ lực tu tạo theo
những hạnh nguyện của Đức Dược Sư.
Để chuẩn bị hành trang về thế giới Tịnh Lưu Ly của Đức Phật Dược Sư,
thiết nghĩ chúng ta tụng kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, nghĩ đến đức hạnh của
Ngài, nghĩ đến thế giới thuần tịnh của Ngài, chắc chắn phải nỗ lực tu tạo theo
những hạnh nguyện của Đức Dược Sư.
Nguyện thứ mười một, những người cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác, Đức Phật
Dược Sư khiến họ có đủ vật thực và dạy pháp Phật, khiến họ được Vô thượng Bồ đề.
Đây là cách giải quyết riêng của thế giới Tịnh Lưu Ly mà chúng ta ở đây khó hiểu
được, nên không dám bàn đến.
Nhưng theo Thầy, ăn chay thì không sát hại sinh mạng của các loài. Và
tiến lên, giảm việc ăn uống, ăn vừa đủ sống, cho đến ăn nhẹ, ăn ít; vì nhu cầu
vật chất của ta không nhiều, có thể tự giải quyết được và còn dư thừa để bố thí
cho người nghèo thiếu.
Nguyện thứ mười hai, người nghèo khổ không có áo mặc, Đức Dược Sư cho
họ chẳng những đầy đủ đồ dùng mà còn có dư đồ tốt đẹp.
Hai nguyện sau cùng liên quan đến việc cơm ăn, áo mặc được Đức Phật
Thích Ca giải quyết cho người tu ở Ta bà bằng "Tam thường bất túc”, nghĩa
là ăn mặc ít, sống phạm hạnh, không đòi hỏi vật chất nhiều. Nhưng Đức Phật Dược
Sư cho biết ở thế giới Tịnh Lưu Ly, người dân được ăn mặc thoải mái.
Tóm lại, Đức Phật Dược Sư nhận thấy rõ con người gặp nhiều khó khăn vì
thiếu thốn vật chất, sức khỏe, tiền của, trí tuệ, mà lại có dư những bệnh tật,
nghèo khổ, ngu dốt, tai nạn; nói chung có đủ những thứ xấu ác, nên người ta dễ
dàng tạo ra nhiều tội lỗi, hoặc khó tiến tu Bồ tát đạo.
Với tâm từ bi vô lượng, phước trí vô biên, Đức Phật Dược Sư đã phát 12
lời nguyện khi hành Bồ tát đạo, dẫn đến thành quả là Ngài xây dựng được Tịnh độ
tên là Tịnh Lưu Ly, một thế giới hoàn toàn tốt đẹp. Ở Đông phương Tịnh độ của
Ngài, của báu dư thừa, giáo dục hướng thượng tuyệt vời, được sống chung với những
bậc Bồ tát đại bi, đại trí, dưới sự hướng dẫn của Đức Dược Sư và Thánh chúng,
người dân ở thế giới đó hưởng được những phương tiện tốt nhất để tiến nhanh đến
quả vị Vô thượng Đẳng giác.
Để chuẩn bị hành trang về thế giới Tịnh Lưu Ly của Đức Phật Dược Sư,
thiết nghĩ chúng ta tụng kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, nghĩ đến đức hạnh của
Ngài, nghĩ đến thế giới thuần tịnh của Ngài, chắc chắn phải nỗ lực tu tạo theo
những hạnh nguyện của Đức Dược Sư. Đó chính là những thềm thang cho chúng ta bước
đến thế giới Tịnh Lưu Ly của Ngài.
HT
Thích Trí Quảng